Tháng Giêng Tát Ðìa
Hắn thích câu cá, không, phải nói là hắn MÊ câu cá mới đúng. Mê đến độ có thể xếp vào hàng die-hard fisherman, tạm dịch là tên câu cá chết dở cho sát nghĩa. Hắn mê từ hồi còn ở quê nhà và khi qua tận đến Hiệp Chủng Quốc vẫn còn mê. Ngày còn ở quê, rờ tới con cá nào hắn bắt tuốt con đó. Nhưng bây giờ thì phải là cá nước mặn hắn mới bắt! Nói thiệt chứ ngày còn nhỏ nhiều khi rồng rồng mà hắn cũng không tha, lấy rổ vớt hết! Còn ở đây, có khi vào mùa Ðông lạnh teo cu mà hắn khóa cửa kín mít giao cho vợ xong, một mình hắn lái xe gần bốn tiếng đồng hồ xuống biển gặp anh Hoành để đi câu thì, trời đã nửa đêm! Không cần quảng cáo, chỉ nhìn cái tên của hắn là người ta cũng có thể đoán ra rằng hắn mê câu cá rồi, không mê sao đặt cái tên như thế! Ðến nỗi có người phàn nàng với hắn: phải cho biết tên đàng hoàng để gọi chứ hông lẽ gọi ông mãi bằng thế nầy sao! Hắn nói mược, ông cứ gọi như vậy đi, nhiều khi tui càng khoái nữa là khác, vì bản tính tui thích ruộng đồng, cá mắm.
Hành trình câu cá bên xứ Cờ Hoa nầy thì thôi, hắn kể đến gà gáy sáng mấy bận cũng chưa xong, nên không nói ra ở đây. Chỉ biết là hắn bắt đầu đi câu cá ‘lòng tong’ trên con suối giữa thành phố Philadelphia trong những ngày mới đến. Rồi từ con suối tí teo bên đường Lincoln Drive hắn ra đến tận Đại Tây Dương để câu cá to và nặng trên chục ký. Mà nói cho đúng hắn là tên die-hard fisherman chính hiệu con nai vàng nhưng cũng còn dưới cơ anh Hoành về vụ ‘die-hard’ nầy đến mấy bậc! Có nghĩa là anh Hoành thì khỏi phải lái xe ba bốn tiếng đồng hồ giữa mùa Đông lạnh teo cu để đến chỗ câu cá, mà ảnh dọn nhà xuống bờ biển ở luôn cho xong chuyện! Nhưng ai đi theo anh Hoành câu cá nhiều khi rầu lắm, rầu là gặp hôm không có cá muốn về sớm cũng không về được. Vì theo lý thuyết của anh Hoành thì: cá chưa ăn rồi nó sẽ ăn, mà cá đang ăn thì không thể đi về ngang xương được! Tức là ngồi tử thủ suốt đêm. Thử hỏi có ai kiên nhẩn bằng mấy tên die-hard fisherman! Từ cái vụ đi câu nầy hắn nghiệm ra là, cái gì cũng phải đam mê mới giỏi được. Chỉ trừ cái vụ đi học là không thể đam mê nổi! Vậy mà cũng có thằng học giỏi, thiệt không thể hiểu.
Người ta nói chim trời cá nước, nghĩa là hơn nhau ở chữ anh hùng mà thôi, hay là “mầy giỏi mầy câu tao coi”. Nhưng cá đầy biển vậy mà đâu phải dễ câu nó! Nếu không nắm vững vấn đề thì “đi không há lẽ lại về không” là chuyện thường. Vấn đề ở đây là phải hiểu mùa nào có loại cá nào vô, phải biết cá nào thích ăn mồi gì, phải biết canh giờ nào thủy triều lên thủy triều xuống để ra câu. Còn nếu đi ra mà gặp con nước không nhúc nhích thì xách c…ần đi về cho được việc! Ngoài ra phải biết cột lưỡi câu và chì như thế nào để bắt từng loại cá, nhiều khi chì nằm trên lưỡi, nhiều khi chì nằm dưới, và có khi khỏi cần chì luôn. Ôi thôi rắc rối lắm! Còn cái vụ phải biết giữ cần câu cho thẳng và phải biết nhấp như thế nào để cá nó cắn câu mà giựt. Nhiều khi nói vậy chứ không hiểu tại sao mình đứng câu cùng một chỗ, cùng con nước, cùng loại mồi mà sao ông bên cạnh giựt lia lịa còn mình thì đứng ngó thôi, thấy nhột chứ! Có lẽ ông đó có số đào hoa với cá! Nhưng nhằm ngày cá nó đi nghỉ Hè thì có đào hoa hay đào gì cũng gác cần lên bếp ngồi chơi thôi. Đó là chưa nói đến cách câu như câu chạy (trolling), câu giựt, câu dưới đáy (deep sea bottom fishing), câu phao, câu mồi giả (câu kiểu nầy kêu bằng chùm sò nề, con cá nào bị bắt nó sẽ chửi thề là bị chết gạt), câu trong băng tuyết (tức là vừa đục vừa câu), … Không phải Nguyễn Du trong Kim Vân Kiều đã nói “nghề chơi cũng lắm công phu” đó sao, nhưng, “không chơi thiệt lấy ai bù!”
Trên đây là nói đến câu cá trên biển, trên sông ở xứ Cờ Hoa nầy. Còn cách câu cá, bắt cá ở miền quê Việt Nam thì sao?
Nhắc đến miền quê hắn nhớ có một mùa Xuân hắn đã về thăm lại quê hương, sau khi không tìm ra được mái nhà xưa hắn buồn hắn đi theo cô gái bắt chuột trên cánh đồng. Rồi hắn giận cô gái, hắn uống ruợu say mềm để quên. Ngày hôm sau tỉnh rượu hắn gặp lại cô gái bắt chuột, và cô gái đã nhỏ lệ vì ... Ra đi không đành nên hắn quanh lại, nói:
- Thôi nín. Tự anh tưởng em chửi anh là thằng ngốc nên anh mới giận thôi.
- Để người ta khóc hết nước mắt rồi mới bảo nín, ác ôn vừa thôi nghen. Hết giận rồi phải hông. Hết giận rồi thì ông đi theo em ra đồng Sa Băng bắt cá chơi.
- Mới khóc như con thằn lằn đứt đuôi mà sao bây giờ ráo hoảnh lẹ vậy.
- Muốn khóc nữa hông?
- Thôi, sợ lắm.
- Vậy thì đi.
Hắn theo cô gái ra đồng, vặt bờ cỏ qua một bên, cột và so dây chiếc gàu rồi cùng cô gái tát đìa bắt cá. Lần đầu tiên hắn dùng gàu tát nước, hắn vụng thấy tệ. Cô gái chỉ hắn gập người xuống giật dây hất chiếc gàu ra rồi thả dây chùn lại hạ chiếc gàu xuống nước. Vục gàu chìm, nước chun vô đầy gàu thì giật tay miệng gàu lên trước và liền theo sau là kéo tay đít gàu lên. Hắn thấy cô gái ễnh người ra sau, hai tay kéo dây gàu lên khỏi bờ đìa xong cô hạ tay miệng gàu xuống trước và giật tay đít gàu lên sau, thế là nước trong gàu tuông ra đổ lai láng trên đất. Hắn làm theo cô gái một hồi rồi cũng ăn nhịp. Hắn và cô gái cúp người lại: chiếc gàu vung xuống đìa; cô gái ễnh người ra: chiếc gàu vụt lên từ dưới đáy; cô gái và hắn dừng người lại: nước trong gàu đổ ra. Hắn và cô gái đi theo nhịp đàn hồi, và mực nước dưới đìa giảm dần theo chiều tăng của niềm hân hoan cô gái. Nỗi vui nhộn tát đìa bắt cá với cô gái đã mang hắn trở về ngày xưa.
Ngày đó đồng Sa Băng sâu, rộng và có rất nhiều cá. Dưới đây là những cách mà dân làng hắn, kể cả những người sống bằng nghề đánh cá chuyên nghiệp và những người bắt cá nghiệp dư dùng để bắt cá trên ruộng sâu, ruộng cạn, trên suối và trên sông từ mùa khô cho đến mùa nước lụt.
Hãy bắt đầu trên ruộng cạn. Nói là ruộng cạn nhưng cũng phải có nước lấp xấp mới có cá, còn ruộng thật khô cạn như đồng lúa gieo thì cá đâu mà bắt! Ở ruộng cạn thì cách bắt cá thông dụng nhất là dùng loa, và ràng.
Loa được bệnh bằng những nang tre vót mỏng hay những nhánh cây nhỏ bứt đâu đó trên ruộng đồng buộc lại một đầu. Xong dùng lạt tre hay dây giang bệnh lại như hình cái rọ heo. Nghĩa là một đầu loa ra một đầu túm lại để cá chun vào đầu loa và bị kẹt ở đít loa. Dùng loa bắt cá bằng cách “trổ” bờ ruộng ra, đặt loa ngay chỗ trổ gọi là đơm loa. Và nếu cẩn thận hơn thì vạch nhiều rãnh nhỏ trong ruộng để cá theo đó mà lách đi, đi thẳng vào loa. Người ta chỉ đơm loa khi ruộng có nhiều nước cần tháo ra bớt, hay lúc lúa sắp chín không cần nước nữa. Thông thường chỉ nên đơm loa trên ruộng nhà thôi, còn đơm loa trên ruộng người khác họ bắt được họ ‘huýnh sạt gáo’, vì tháo nước ruộng người ta! Loa thường được đặt vào buổi chiều, sáng ngày thức dậy thật sớm ra dỡ loa, nếu ra trể quá thì người khác họ dỡ dùm loa của mình! Hắn nhớ có những buổi sáng, sương mai còn đọng trên ngọn cỏ hắn chạy lăng tăng trên cánh đồng để dỡ loa, niềm vui chan chứa khi trong loa có những con cá rô mập ú do ăn mầu lúa. Cá dính loa nhiều nhất là cá rô, cá tràu (cá lóc). Mà cá dính loa thì thường bị chết, vì loa không có chỗ để cá bơi lội và thở.
Ràng. Ràng có hình thù giống cái loa nhưng to hơn nhiều. Ràng đan bằng thanh tre vót mỏng, đít ràng nhỏ là nơi để gắn cái đụt, thân ràng có hình bầu dục lớn dần từ đít lên, cổ ràng được siết nhỏ lại và nơi đây có gắn cái toi để cá chỉ vô được mà ra không được. Sau cổ ràng là miệng ràng loa to ra. Có nhiều cái ràng mà miệng có đường kính cở vài thước, và có cái ràng miệng có đường kình chừng gan tay. Ràng thường được đặt giữa mương nước chảy hay trổ bờ ruộng đặt như đơm loa. Ngăn mương nhỏ lại, chừa một lổ trống xong đem ràng đặt sao cho nước chảy vào miệng ràng. Nhưng cũng có khi người ta đặt ràng ngược lại chiều nước chảy, vì nhiều khi trời mưa nước mát cá hay lội ngược dòng. Lâu lâu thì đi gỡ ràng bằng cách nâng đít ràng lên khỏi mặt nước, gỡ đụt dưới đuôi ràng và dốc cá ra. Nhưng ngán nhất là khi gỡ đụt ràng ra mà gặp rắn nước trong đó! Rắn nước chun vô ràng để ăn cá và kẹt trong ràng! Có người bắt nó đem về nhậu luôn!
Những cái ràng miệng to chừng vài thước thì thường được đặt lâu ngày trên mương lớn và gọi là cái đăng. Dùng phên tre đóng xuống mương như hình chữ V. Dưới đáy chữ V đặt cái ràng lớn. Dỡ đăng giống như dỡ ràng. Đăng được tháo ra đem về nhà trước khi nước lụt tràn về.
Ngoài ra trên mương lớn người ta còn đóng Sa để bắt cá. Sa gồm có những tấm mành mành đan sát nhau bằng thanh tre, xong giăng từ bờ mương thành hình cái phểu. Ở đáy phểu đặt một lớp mành mành hình chữ nhật, một phần ăn sâu xuống dưới nước, và một phần nằm trên mặt nước. Khi cá bơi qua đụng lớp mành mành dưới nước nó nhảy lên và mắc ‘cạn’ phơi mình ở lớp mành mành nằm trên mặt nước. Phía ngoài quận lỵ Mộ Ðức, trên cánh đồng, ngày xưa nhà ông Phạm Văn Du có đóng một cái Sa trên mương bên cạnh nhà.
Trên mương còn một dụng cụ bắt cá nữa là cái Ðó. Ðó có hai loại. Lọai hình thoi nằm trong mương nước, một đầu trống và một đầu buột vào cái toi trước khi gắn túi vải thay cho đụt để chứa cá. Loại hình trụ (còn gọi là Trúm) có mặt trước vuông là nơi gắn toi, và phần sau bầu bầu lại là nơi cá chun vào ở trong đó. Cách đặt Ðó cũng giống cách đặt ràng.
Trên đây là dụng cụ để bắt cá trên mương, nhưng còn cách khác để bắt cá trên mương là tát mương. Năm 1964 hắn theo Cha và người anh bà con đi tát mương. Khi tát xong, xuống bắt cá thì hắn đi sau để bắt hôi, nghĩa là hắn đi bắt những con cá nào còn sót lại sau khi người ta đã bắt. Nhưng hai người bắt ‘chiến’ quá nên chả thấy con nào lọt lại, hắn mò hoài mà trong cái đụt chỉ le nghoe vài con cá cấn. Hắn bèn thò tay vô cái đụt của Cha và người anh kia mà bắt cá bỏ qua đụt hắn. Suốt buổi tát mương không ai phàn nàn gì về chuyện hắn bắt hôi, nên lâu lâu hắn lại thò tay vô đụt bắt cá! Nhưng sau khi xong xuôi, người anh kia lấy cái đụt hắn dốc hết cá ra lấy lại. Hắn rầu thuối ruột! Ðâu phải trong đụt không có con cá nào hắn bắt hôi đâu!
Kế đến là bắt cá ở ruộng (nước) sâu. Quê hắn có cánh đồng rộng lớn, một phần cánh đồng nước ngập quanh năm, có chỗ sâu quá đầu người, không ai khai thác gì ngoài việc đánh và bắt cá trên đó. Và phần nước sâu đó gọi là đồng Sa Băng.
Ðồng Sa Băng có các loại cá như cá thát lát, cá tràu (cá lóc), cá trê, cá rô, cá giếc, cá gáy (cá chép), cá lia thia, cá cấn, cá lầu bầu, cá sặc, cá chạch, lương, v.v… Ngoài cá ra đồng Sa Băng có nhiều ốc bưu, ốc rạ, ếch, nhái, tôm, tép, chuột đồng, chim, cò, vịt nước, và lùng lác, v.v…
Cách bắt cá phổ biến trên ruộng sâu là thả lờ, thả câu giường, cắm câu, giăng lưới, đứng nhá, kéo vó, nhũi, đi te, dậm lưới, đào hầm, chụp nơm. Ngoài ra người ta còn câu rê, câu vịt con, tát ruộng, v.v…
Thả lờ. Lờ có hình thoi, dài chừng nửa thước, nơi giữa lờ rộng chừng miệng cái nón lá, hai đầu lờ có gắn toi là nơi cá chun vô. Lờ thường được đặt sát bờ ruộng, nhận chìm sâu trong nước. Sau khi đặt lờ xuống nước người ta phủ lên một lớp cỏ hay rơm rạ để cá thấy bóng mát mà chun vào. Hay cá đi kiếm ăn quanh bờ ruộng nơi có nhiều côn trùng rồi chun vào lờ hồi nào không hay!
Thả câu giường thì ngồi trên ghe hay lội bộ trong ruộng sâu. Câu giường gồm có một sợi cước dài có gắn phao, cách chừng một thước cột vào một lưỡi câu, xếp tròn trong một cái thúng có quay mang choàng qua cổ. Trên thành thúng có cắm một thanh tre chẻ làm đôi để móc những lưỡi câu vô cho khỏi bị rối. Vừa chống ghe đi vừa lấy câu ra móc mồi xong thả xuống nước. Mồi câu giường là trùn đất.
Cắm câu cần phải có rất nhiều cần câu. Cần câu cắm bằng tre, dài chừng một thước. Một phần ba cần được chuốt dẹp, mỏng và có độ nhún tốt, phần còn lại tròn và cứng để cắm lên bờ ruộng. Người đi cắm câu mang theo cở vài trăm cần câu cắm, vai mang đụt nhái, cách khỏang năm sáu thước thì móc nhái vào lưỡi câu cắm trên bờ ruộng, để con nhái còn sống bơi bơi trên mặt nước. Sáng ngày hôm sau ra thăm và nhổ câu, hầu hết cá ăn câu là cá tràu (cá lóc.) Nhưng bực mình nhất vẫn là rắn nước! Rắn nước thích ăn nhái nên thế nào trong một đêm cắm câu cũng có vài ba con rắn dính câu!
Giăng lưới thì vừa chống ghe trên ruộng sâu vừa thả lưới xuống nước. Nhưng ít khi thấy cảnh sau khi thả lưới xong người giăng lưới chống ghe đi lẹ, dùng sào đập vào nước, gõ vào thành ghe gây tiếng động. Cá trong nước hoảng sợ chạy toán loạn và mắc lưới. Hình ảnh người giăng lưới đứng trên một đầu ghe, vừa chống sào vừa nhún làm cho chiếc ghe vừa nhấp nhô vừa lướt trên mặt nước và tiếng sào đập chanh chách vào nước, có lẽ là hình ảnh hắn nhớ nhiều nhất trên đồng Sa Băng trong những ngày nước lớn.
Đứng nhá. Nhá đặt tại những nơi có con nước lớn. Khi kéo lên lưới thụng xuống và cá nằm trong lưới. Nhá lớn nặng nên phải có cái cần dài như đòn bãy để kéo nhá lên. Vó nhỏ hơn nhá. Miền Trung vào những ngày nước lụt người ta thường mang áo tơi ra đứng nhá hay kéo vó ngay cả ở bờ sông và trên cánh đồng.
Dậm cá. Cái dậm gồm một khung lưới hình chữ nhật, ba mặt được cơi lên bằng lưới và chụm lại ở trên đầu, mặt còn lại để trống. Bên cạnh lưới dậm còn có một đòn cây hình chữ T lật ngược lại. Người dậm cá đứng trước mặt dậm, giang tay thả đòn hình chữ T xuống nước rồi dùng chân vừa nhập nhập lên đòn cây vừa đưa dần vô lưới, cá sợ tiếng động chạy vô lưới.
Nhưng dụng cụ lạ và có lẽ hiếm thấy là cái te. Te dùng để te tép tức là bắt tép (tép giống như tôm nhưng chỉ lớn bằng đầu chiếc đủa con). Te có hai phần, phần đầu là một miếng phên hình chữ nhật, đan bằng thanh tre mỏng, thưa có hình cong từ dưới lên trên, phần sau giống như cái nhũi cá có gắng túi vải mỏng thay cho đụt chứa tép. Phần sau gắn liền mặt lỏm phần trước bằng hai thanh tre từ hai bên hông. Thả te xuống ruộng sâu xong nắm cán phía sau vừa đi vừa đẩy tới, phần te lồi ra ở phía trước vừa cản vừa tách nước chảy qua hai bên hông rồi chảy ngược vô te lùa tép vào túi vải đựng. Đứng xa nhìn người đi te như con kênh kênh đi trên đồng!
Câu vịt. Cột lưỡi câu chùm vào chân vịt con, đi tìm chỗ nào có bầy rồng rồng thả vịt con xuống bơi lội phá bầy rồng rồng, cá mẹ bơi ở dưới bảo vệ bầy rồng rồng, thấy vịt phá cá con, nó đến cắn con vịt thì dính câu. Giựt mạnh cần câu một cái vịt con sút ra chỉ còn con cá mẹ dính câu. Nhưng câu vịt bắt con cá mẹ đi rồi thì, bầy rồng rồng con coi như tan nát vì, không còn mẹ che chở!
Ở miền quê sau ba ngày Tết người dân trong làng hay đi tát cá đem về muối để dành cho những lúc bận rộn công việc đồng án. Có lúc người ta mang xe đạp nước ra ruộng sâu đạp nước bắt cá. Trước khi đạp, người ta vạch năm ba đường rãnh cho nước rút. Khi nước cạn thì ôi thôi cá nó chạy bày kỳ, và nhiều nhất là trong những rãnh được vạch trước. Xong tay mang theo đụt, rỗ, và cá nằm bày kỳ trắng phếu chỉ việc bắt bỏ vô đụt. Nhưng có nhiều con cá, nhất là cá lóc cá trê và cá chạch, nó chui đầu trốn dưới bùn nên phải lòn tay xuống bùn mới bắt được. Cũng có con lẫn lộn trong bùn sình và sót lại, thì mấy người đi bắt hôi có cơ hội.
Quê hắn nằm trên bờ sộng Vệ, một trong ba con sông chính, đẹp và thơ mộng của Quảng Ngãi nên không ít lần đã đi vào thơ ca. Sông Vệ cưu mang cuộc sống của biết bao gia đình sống bằng nghề chài lưới mà người dân quê hắn gọi là ‘nậu ghe’. Nhưng đánh và bắt cá trên sông Vệ không chỉ có nậu ghe mà còn đủ mọi người sống hai bên ven sông, có cả hắn và những đứa con nít trong làng. Có lẽ một kỷ niệm không bao giờ phôi phai trong hắn là những ngày bờ xe nước trong thời kỳ hoạt động. Dưới chân trụ bờ độn và trong những tấm vĩ giữa những bánh xe có nhiều con hà, hà là một loại mồi rất nhậy để câu cá bống con. Bất kể những trận đòn và lời đe dọa từ mấy ông thợ xe, hắn cứ chun vào bờ xe nước móc mấy con hà ra để câu cá bống. Nước trong suốt hắn ngồi dương mắt nhìn con cá bống bò đến ngắm nghía con hà, xong nó thổi nhẹ một cái đẩy con hà ra xa rồi nó bò theo ngắm, thấy đúng là ‘cao lương mỹ vị’ nó bèn ngậm nước hút vô một cái, con hà trôi theo vào miệng. Nó nằm yên thổi thổi cho cát bay ra khỏi miệng, chỉ còn để lại con hà trong đó, nó yên tâm quay đi, thì đúng lúc hắn giựt dây câu lên! Không còn gì hồi hộp và vui sướng hơn là nhìn con cá bống con nó ăn câu mình! Và còn tuổi thơ nào để nhớ để thương!
Người dân quê hắn bắt cá trên sông Vệ, ngoài cách đi soi vào ban đêm, còn có chài lưới, kéo ngao, thả chà, cắm ống, thả rận, vân vân… Ngoài cá ra, sông Vệ còn cho dân làng vô số ốc gạo, ốc quắn, hến và lịch. Nhất là vào mùa kéo cát đắp bờ độn xe nước người ta dùng móc sắc để cào lịch, lịch giống như con lương nhưng nhỏ, có màu xám và ngắn hơn nhiều.
Kéo ngao là dùng một sợi dây dừa (dây thừng, hay dây ni-lông) lớn cở ngón tay cái, cách đoạn một gan tay người ta móc vào vài ba võ sò (gọi là ngao) nhỏ, trắng. Một sợi dây ngao có thể dài hàng trăm thước. Người ta bắt đầu kéo ngao từ bờ kéo xa ra rồi đi thành hình cánh cung đi vô, vừa đi vừa kéo vừa giựt dây ngao để những võ ngao va chạm vào nhau tạo thành những âm thanh lắc cắc truyền trong nước làm cá sợ mà lội đi. Nhưng lội về hướng dây ngao thì tiếng động càng lớn, cá lại sợ nên lội tránh xa nguồng âm thanh, tức lội vô bờ sông. Gần bờ người ta giăng lưới sẳn, khi dây ngao gần khép lại thì lưới cũng bao theo! Thế là tiêu đời mấy con cá!
Thả chà. Trên sông người ta cắm cây thành một vòng tròn, bên trong vòng tròn thả nhiều nhánh cây, khô có tươi có, gọi là thả chà. Chà có thể có nhiều lọai cây khác nhau cho nhiều loại cá cùng về ở. Khi dỡ chà thì mang lưới bao xung quanh, lấy chà bỏ ra ngoài, siết vòng vây lưới lại càng lúc càng nhỏ, và cuối cùng cá bị thu về một mối.
Rận được đan bằng thanh tre có hình thù như nửa cái vỏ sò lật ngữa lên. Phần ngoài cùng có thể rộng đến vài thước, bìa rận cao dần về phía gốc và cuối cùng chúm lại thành một nắm tay, nơi người ta buộc dây nắm kéo đi. Trước khi thả rận người ta cũng bỏ vào bên trong rận những cành cây như thả chà. Xong lôi rận thả vào nơi nước ‘hơi sâu’ và không chảy xiết. Cá tìm nơi yên tịnh để ở và làm ổ. Lâu lâu người chủ ra kéo rận lên bờ, cá ra không kịp bị kẹt trong rận!
Cắm ống. Ống là những ống tre lớn cở cổ chân cắt ngắn chừng hai đốt, hai đầu rỗng, khoét một lỗ nhỏ xuyên qua giữa ống nơi hai đốt giao nhau, và cắm vào một khúc tre dài vài ba gan tay thẳng góc với ống. Ðem ống cắm cho nằm sát trên mặt đáy sông. Cá bống là loại cá chun vào ống ẩn núp thường là cá bống dồ, tức cá bống lớn. Dỡ ống bằng cách hụp người xuống nước, dang hai tay bịt hai đầu ống rồi rút ống lên, nghiêng một bên cho nước chảy ra và, nếu có cá bống chun vào thì đưa miệng ống vào cái đụt, thế là có được những con cá bống trắng trẻo béo mập!
Trên đây là cách bắt cá trên ruộng đồng và sông nước. Nhưng làng mạc ở miền Trung Việt Nam nói chung và Quảng Ngãi nói riêng, những miền cận sơn người ta còn bắt cá trên suối và trong những cái đìa ở ven rừng.
Trên suối nhiều nhất là cá ‘leo’, cá tràu cỏ (nhỏ chừng cán dao), cá trê đen. Cá rô thóc (lớn không quá ba ngon tay) thấy nhiều trong các đìa nằm cạnh ven rừng. Câu cá rô thóc, cần câu ngày ấy rất đơn sơ, chỉ cần chặt cây trúc hay nhánh tre nhỏ, chuốt sạch lá, cột vào sợi dây cước dài chừng bốn năm thước và một lưỡi câu là xong. Móc trùn vào lưỡi câu, nhưng trước tiên là đi bức cộng điên điễn làm phao. Cá rô thóc và cá leo nhát nên đứng chỗ nào cho nó không thấy bóng mình. Thả câu xuống, một hồi sau thấy cái phao nhỗng đầu lên giựt giựt mấy cái xong cắm đầu xuống và, rút sâu trong nước là, a lê hấp, giựt lên! Nên giựt xéo cần câu để lưỡi dễ đóng. Con cá rô vàng hườm búng búng trong lòng bàn tay hắn, thử hỏi làm sao không mê câu cá được!
Tháng Giêng là tháng ăn chơi, là tháng mà ruộng đồng vẫn còn nguyên sau mùa gặt trước, đất chưa cuốc ải, ruộng chưa cày, mạ chưa gieo, bờ xe nước chưa lên bánh. Tháng mà nhà nhà trong ghè trong lu vẫn còn những hộc bánh Nỗ, mức Mè, mức Gừng, mức Bí. Tháng mà người ta vẫn còn nhâm nhi hương vị của ba ngày Tết. Và cũng là cái tháng mà người dân trong làng hắn thường ra tát đìa.
Đìa có chiều dài năm ba thước, rộng hai ba thước và sâu ngập đầu. Có lẽ thời chống thực dân Pháp người ta đã đào những hầm trốn bom đạn, trốn máy bay oanh kích, sau nầy trở nên âm u chứa đầy nước trở thành những cái đìa cho cá về ở. Hầu hết đìa ở quê hắn đều nằn ven rừng. Chỉ trừ vài ba cái nằm ngoài đồng, và một trong vài ba cái đó là cái đìa ở cầu Bân, cái đìa duy nhất nơi hai con mương lớn giao nhau để đổ về đồng Sa Băng.
Có một mùa Xuân hắn đã theo Cha lên tát đìa cầu Bân. Mùa Xuân đó, sau một thời gian dài mới tát lại nên cá trong đìa nhiều và lớn. Sau khi dùng gàu tát cạn nước, cá nằm phơi mình trên bùn. Hắn chạy lòng vòng trên bờ đìa chỉ tay xuống: A nó đây nề, con cá trê kia nề, …, con cá tràu to quá … to bằng bắp vế của hắn! Rồi hắn chạy tung tăng vui mừng chụp vài con cá Cha hắn vứt lên bờ. Cá nhiều quá hắn không biết làm gì cho hết thế mà hể có con nào bay lên bờ là hắn chạy đến chụp.
Và niềm vui Tháng Giêng Tát Đìa vẫn còn theo hắn!
Cô gái tát đìa nghe hắn la lớn: “Con cá tràu to quá…” và đứng ngẫn ngơ. Cô nói:
- Ông lại mơ về quê cũ ngày xưa của ông nữa rồi! Khổ quá, đã nói xa rồi đâu còn nữa mà sao cứ nhớ hoài.
Cô nói tiếp:
- Đìa cạn rồi đó, ông xuống bắt cá đi. Ðể em đưa cái đụt cho ông.
- Cho anh mượn cái cuốc hay cái gì đó để xén cỏ xung quanh bờ đìa rồi hãy xuống bắt.
- Kệ nó, ông khỏi cần quét dọn chi cho mệt, chỉ bắt cá thôi.
- Nhưng rắn nó trốn trong cỏ, ghê lắm!
- À quên đi, ông sợ rắn. Thôi ông lấy cây nầy đập lên bờ cỏ nếu có rắn thì nó bò đi. Tội ông quá, đi bắt chuột ông cũng sợ rắn, đi bắt cá ông cũng sợ rắn. Còn một con nữa ông cũng nên sợ cho nó đủ bộ.
- Con gì?
- Con cua.
- Cua mắc mớ gì mà phải sợ.
- Ông chưa bao giờ bị cua kẹp à? Cua kẹp giống như con cóc nó cắn vậy đó, chỉ có Trời gầm nó mới nhả ra, ông có nhớ hông?
- Có bị cắn hồi nào đâu mà nhớ. Mà em bắt cua làm sao cho khỏi bị cua kẹp?
Cô gái giải thích:
- Người Sài Gòn như miệt Nhà Bè thì họ dùng cộng kẻm có cái móc rồi thọt vào hang cua, ngoái ngoái mấy cái, con cua chịu không nổi nó kẹp cộng kẻm lại, họ kéo ra từ từ.
- Nhưng người mình thì bắt cua làm sao, em nói nghe coi.
- Người mình không bắt cua ông à. Người mình thấy hang cua thì thọt tay vô móc nó ra, gọi là đi móc cua. Ông có ăn mắm cua lần nào chưa?
- Chưa.
- Vậy thì ông chết hết nửa cuộc đời rồi! Để em kể cho ông nghe cách làm mắm cua nhé. Cua đồng đem về, phải nhiều mới đủ làm mắm, rửa sạch qua một nước xong bỏ vào cối mà quết. Quết cho đến khi cua nhuyễn ra thì bỏ vào miếng vải mùng hay cái khăn mà vắt để lấy nước, phần xác cua thì ném ra sân cho gà nó ăn. Khi vắt hết thì đem nước cua nấu lửa thâm thấp cho sôi, đừng có lấy đủa mà quậy sẽ chua, nêm nếm chút muối cho vừa miệng xong tắt lửa để nguội. Đợi vài hôm sau là ông có một hủ mắm cua màu nâu sậm ngon lành. Chỉ cần chạy qua nhà bà Phước nói bả bắt cho mấy con bún tươi còn nóng đem về chang nước mắm cua lên ăn, thì ông sẽ thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa của ba chữ tuyệt - cú - mèo! Bây giờ thì ông đi bắt cua đi.
Hắn cùng cô gái vạch bùn bắt cá trong đìa. Năm ba con cua màu tím chạy ngổn ngang trước mặt, hắn đưa tay ra chụp, bị cua nó kẹp. Đau quá hắn la trời rồi rãy rãy tay cho con cua sút ra, nhưng càng nhúc nhích con cua nó càng siết chặt lại. Đau quá hắn kêu lên:
- Em gỡ ra cho anh được không.
Cô gái bước đến dùng khúc cây đập con cua rơi xuống đất, rồi cô từ từ gỡ càng cua ra khỏi tay hắn. Cô nói:
- Ông nhớ em dặn nề, chớ có bao giờ chụp con cua như chụp chuột, nó kẹp chết. Ông bắt cua bằng cách lấy ngón tay cái hay ngón trỏ dí lẹ lên mu con cua, đè nó xuống rồi đưa mấy ngón tay kia ra nắm dưới bụng nó mà đưa lên. Ông nhớ đó, dí ngón tay lên mu nó chứ ông mà dí lên bụng nó nó lại kẹp ông chết dỡ nữa.
Trên cánh đồng lộng gió hắn bắt mấy con cua trong cái đụt ra, thả bò trên bờ đìa xong lấy ngón tay dí lên mu nó đè xuống, hết con này đến con khác. Hắn cười khúc khích, lẩm bẩm trong miệng:
- Kẹp nề, kẹp nề, … cho đáng đời.
Cô gái nhìn bản mặt khó diễn tả của hắn, cô lắc đầu:
- Ngốc ơi! Ngốc mất nết vừa vừa thôi. Ngốc hư quá chừng rồi!
Sau ngày tát đìa ấy hắn không còn trở lại nữa, và người con gái đã khép kín đôi cánh cửa.
____________
Đồng Sa Băng
- Nhà Việt Nam - Tâm Giao
- → Viewing Profile: DongSaBang
Community Stats
- Group Members
- Active Posts 265 (0.12 per day)
- Submitted iMedia:0
- Most Active In Văn sáng tác (169 posts)
- Profile Views 5,385
- Age Age Unknown
- Birthday Birthday Unknown
-
Gender
Not Telling
-
Location
Cánh Đồng Chung
0
Neutral
Latest Visitors
Topics I've Started
Tháng Giêng tát Ðìa
14 February 2012 - 03:32 PM
Đường Xưa Lối Cũ
01 February 2012 - 02:41 AM
Đường Xưa Lối Cũ
Lâu rồi tôi cứ hứa với lòng là sẽ có một ngày tôi quên đi những nhọc nhằn để về thăm quê hương một chuyến thật lâu, như ba bốn tháng gì đó. Tôi ước mơ sẽ được đặt chân trên khắp nẽo đường quê hương từ Nam ra Bắc, để được nhìn và thấy quê hương trong hơi thở và nhịp sống. Nhưng cũng bao lâu rồi mà tôi vẫn chưa thực hiện được giấc mơ đó, nên mãi ngậm ngùi mỗi lần nghe nhỏ Mỹ Tâm hát bài Làng Tôi. Khi tiếng nhạc và lời ca đã chìm sâu, tôi vẫn còn mơ và lời ca:
“Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn … người bốn phương”
vẫn còn ngân vang trong đầu tôi. Năm 1992 tôi nghe và xem chương trình ca nhạc “Mùa Xuân Nào Ta Về” của Paris By Night vừa phát hành. Qua lời thuyết minh của nhà văn Duyên Anh, giọng đọc trầm buồn của người thiếu nữ như giăng sâu vào tim gan với những bản tình ca, hình ảnh những chiếc cầu, ruộng đồng, sông nước, và những mái lá nghèo nàn nằm bên hàng dừa nước của làng quê Việt Nam. Đã làm tôi rơi lệ! Duyên Anh đã trải lòng nỗi nhớ và trăng trở với quê hương thật thống thiết qua lời nói, nếu tôi không lầm thì là: “làng tôi, làng anh, làng Việt Nam chúng ta nó đang xoay chiều và càng lúc càng nhanh lên rồi đó.” Như ông đã viết để hỏi: “Mùa Xuân Nào Ta Về?”
Có lẽ tôi cũng nhớ nhà như Duyên Anh, nhưng tôi không chịu nổi sự đợi chờ khi thời gian càng ngày càng trôi qua nhanh. Và có một Mùa Xuân tôi đã về.
Ngày tôi rời xa quê cũ không rượu, không trà, không có đuôi mắt dài nhìn theo bước chân tôi đi, không lễ tiễn đưa, không hồi còi tàu, không bịn rịn, và tôi cũng không biết tôi sẽ đi về đâu! Vì ngày ấy tôi chỉ là đứa bé ham vui bắt chim bắt cá trên đồng Sa Băng, thì bom đạn đổ xuống quê tôi. Thế mà Mùa Xuân đó tôi về, tóc đã hoa râm!
Đường dài mỏi cánh chim bay mãi rồi cũng đến lúc máy bay đáp xuống thành phố Sài Gòn. Tôi vẫn thương và muôn đời chỉ gọi là thành phố Sài Gòn mặc dù nó đã bị đổi tên! Anh tôi bảo lấy máy bay bay ra Đà Nẵng rồi lấy xe quanh ngược vào Quảng Ngãi cho lẹ và khỏe. Nhưng tôi quyết định đi bằng xe đò, vì tôi muốn được nhìn quang cảnh bên đường. Một con đường dài từ Sài Gòn về Quảng Ngãi, tôi tha hồ nhìn ngắm và ghi lại hình ảnh, vì có bao giờ tôi lại có được dịp may như ngày hôm nay. Và để đổi lấy những giây phút ngắm nhìn hình ảnh quê hương mà tôi hằng mong ước là thân tôi rả rời. Vì con đường dài và xấu. Nhưng nếu có lần thứ hai tôi vẫn không ngần ngại chọn con đường rả rời thân thể nầy!
Rả rời, bầm dập rồi cũng đến, và tôi đang đứng trên con đường đất đi vào chợ Thi Phổ một buổi sáng cuối Xuân. Tôi theo anh vào chợ mua ít nhang đèn để thắp cho mộ Cha và Bà Nội. Từ đây tôi nói anh chở tôi đi lại con đường xưa. Trong đời người có biết bao “con đường xưa”, những con đường xưa thường mang nhiều kỷ niệm đẹp, nhưng cũng có “con đường xưa” chỉ ghi dấu sự buồn phiền. Và con đường xưa hôm nay tôi đi lại là con đường mà ngày đó tôi chạy trốn!
Ra khỏi chợ Thi Phổ anh đèo tôi sau chiếc xe gắn máy anh mang theo từ Sài Gòn. Xe chạy về hướng thị xã Quảng Ngãi một chặp thì đến ngã ba Quán Lát, anh quẹo trái để về Hành Thịnh. Con đường đất đỏ ngoằn ngoèo đưa hai anh em tôi về xã Đức Thạch. Hai bên đường lúa xanh phơi phới và bên bờ mương tôi thấy chiếc xe đạp nước cổ kính của ngày xưa nằm phơi mình bên bờ ruộng. Tôi mừng quá, nói anh dừng xe lại. Tôi bước đến chiếc xe đạp nước đang được phủ kín bởi một tấm ni-lông bạc màu, tôi loay hoay nhìn kỷ như tìm kiếm một bảo vật, nhưng với tôi nó thật sự là một bảo vật. Thấy tôi như một đứa bé đang mân mê món đồ chơi, người chủ chiếc xe từ trong nhà bước ra. Tôi hỏi ông có thể cho tôi gỡ bỏ lớp áo ni-lông cũ kỷ để tôi chụp vài tấm hình, ông đồng ý, và hình ảnh chiếc xe đạp nước ngày xưa lại được theo tôi đi tận phương trời!
Tại đây anh tôi quẹo trái về Núi Đồi để chúng tôi thắp nhang cho Cha và Bà Nội, xong anh quanh xe lại chạy theo “con đường xưa tôi đi.” Một hồi sau chúng tôi đến chợ Vam. Đến đây tôi nói anh ngừng xe lại, tự dưng lòng tôi chùn xuống!
Nơi đây hơn bốn mươi năm về trước, năm 1965, gia đình tôi lừa bầy trâu chạy giặc từ xã Nghĩa Thành (nay là Hành Thịnh), chiều về Cha tôi cột bầy trâu ngoài chợ Vam trong khi cả nhà tạm cư trong nhà bà xã Thủ ở Đức Thạch. Tối xuống đàn trâu tự bức đức dây rồi một mình dẫn nhau trở về nhà. Sáng hôm sau Cha tôi lại đem gia đình trở về với bầy trâu. Ngày còn nhỏ có đôi lần tôi theo Mẹ xuống chợ Vam, nhưng lâu quá tôi không còn nhớ nhiều về ngôi chợ này. Chỉ nhớ đó là một ngôi chợ lớn có nhiều cá biển ngon như cá mòi, cá ngừ, cá chuồn, cá thu, cá hố, cá rựa, vân vân…, có bán đá cục, cà rem, quần áo đẹp, và có những đôi giày sơn-đanh (sandal) mà tụi con nít chúng tôi ngày ấy mơ có được một đôi để khoe trong ba ngày Tết. Mẹ tôi lâu lâu mới đi chợ Vam một lần, và mỗi lần được theo Mẹ đi xuống chợ Vam tôi mừng lắm.
Nhưng bãi đất và hàng cột ngày xưa Cha tôi cột đàn trâu nay không còn thấy nữa.
Tôi đứng trầm ngâm nhìn lại cảnh xưa một hồi, rồi nói anh tôi chở đi.
Một lát sau chúng tôi đến khu gò mã. Gò mã nầy ngày xưa có nhiều hàng Dương Liễu. Từ lối đi giữa mồ mã, tẻ ra một con đường mòn nhỏ để vào nhà bà xã Thủ ở Đức Thạch. Tôi lại nói anh ngừng xe lại. Nhìn những bụi xấp xôi và hàng cây bời lời hai bên đường tôi nhớ đến một buổi chiều.
Một buổi chiều cuối mùa Xuân năm 1965, khi tiếng súng tạm ngưng tôi dẫn đứa em trai, vai mang túi chanh tươi và mấy cục đường cát trắng, từ xã Nghĩa Thành xuống thăm người chị theo chồng đi lính, đang đóng quân ở quận Mộ Đức. Lúc đó xã Nghĩa Thành đã nằm dưới quyền kiểm soát của “quân giải phóng”. Việc đầu tiên “quân giải phóng” làm khi họ chiếm ngôi làng là đốn những bụi tre già nằm hai bên con đường chính trong làng, cho nằm ngỗn ngang bít lối đi chính. Tôi dẫn đứa em len lỏi trong vườn tược nhà người ta, nhìn đâu đâu cũng thấy đổ nát. Xóm làng lúc nầy nhiều người đã bỏ đi nên rất vắng lạnh. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp vài người du kích mang AK đi trong vườn cũng đủ sợ đứng tim. Tôi đi trên đoạn đường ngắn từ thôn Ba Bình đến đập Bến Thóc mà dường như dài vô tận, tinh thần căng thẳng như đi trong vùng tử địa! Tôi rất sợ bị du kích bắt gặp, dường như ngày đó họ có một ma lực khiến cả những đứa bé như tôi cũng khiếp sợ, và dường như họ có toàn quyền sinh sát những thành phần thuộc gia đình khá dã mà họ cho là giai cấp tư bản. Khi đến sông Thoa, bên kia bờ là xã Đức Thạch quận Mộ Đức thuộc vùng kiểm soát của Quốc Gia.
Anh em tôi run và sợ, hồi hộp bước lên cầu đập Bến Thóc, cây cầu làm bằng gỗ bắc qua sông Thoa để rời khỏi vùng Cọng Sản kiểm soát. Qua bên kia sông Thoa không còn thấy hình bóng người du kích nữa. Nhưng con đường cũng không có ai đi, vắng, lạnh, và mang một màu tang thương như bãi chiến trường vừa trãi qua cơn binh biến! Đi thêm một khúc tôi đến Gò Rộng là một bãi cỏ dùng làm sân vận động, xung quanh có nhiều cây Dương Liễu. Những ngọn gió thổi xuyên qua rừng Dương tạo thành những âm thanh rì rào nghe đến não nùng!
Tại Gò Rộng nầy những ngày thanh bình tôi theo mấy người anh lớn từ xã Hành Thịnh xuống đây đá banh và đua xe đạp. Bình thường khi nghĩ tới đua xe là tôi liên tưởng đến những tay cua-rơ cắm đầu cắm cổ chạy như chạy chết. Nhưng trong cuộc đua này người thắng cuộc không phải là người chạy nhanh nhất, mà ngược lại! Anh nào chạy chậm nhất, và tất nhiên không được ngã xuống đất, cộng thêm vào đó các anh phải giữ thăng bằng và cuối người xuống đất lượm cho được chiếc mũ nĩ thì thắng cuộc. Ngày đó các anh lớn quê tôi bày những trò chơi thể thao ngược đời!
Hôm đó Gò Rộng bao trùm tử khí. Qua khỏi Gò Rộng là đến khu gò mã, lối vào nhà bà xã Thủ. Không khí nơi đây còn rùng rợn hơn, không bóng người đi, chỉ có tiếng gió rì rào của rừng Dương, và những mảnh giấy vụn gió thổi lăn lóc trên những nắm mồ. Anh em tôi bước đi trong sợ hãi. Bất chợt có tiếng la lên: “Đứng lại. Đi đâu đó.” Và liền sau tiếng la là vài ba người ôm súng phóng ra từ bựi rậm đè đầu hai anh em tôi xuống đất. Họ lục xét trong túi vải tôi mang theo rồi hỏi lại một lần nữa: “Mang ba thứ nầy đi đâu?” Tôi sợ tái mặt và run run nói: “Em mang đường và chanh xuống thăm người chị dưới quận Mộ Đức.” Họ xem xét một hồi không thấy có gì khả nghi nên thả hai anh em tôi đi. Thì ra các ông là những người lính Dân Vệ đang rình mấy ông du kích. Vậy là anh em tôi thoát khỏi cửa ải tử thần, tôi mừng vì đã thật sự đặt chân vào vùng Quốc Gia an toàn. Và hai anh em tôi đi như bay xuống ngôi làng nhỏ nằm sau Quốc Lộ 1, đối diện quận lỵ Mộ Đức.
Qua khỏi “con đường xưa tôi đi” tức từ chợ Vam đến gò mã nhà bà xã Thủ, qua Gò Rộng, đến đập Bến Thóc, thôn An Ba, Mỹ Hưng, Đồng Xuân là đến thôn Ba Bình. Tôi vui mừng như ngày mới lớn theo Mẹ đi chợ. Tôi đã về nhà! Về lại mái nhà xưa, nơi chôn nhau cắt rún!
Lâu lắm rồi tôi mới trở lại, tôi lức láo nhìn xung quanh cố tìm một vết tích quen thuộc của ngày xưa. Cổng ngọ môn vào làng bắt choàng qua đường Cái Quan nay đã mất. Dãy nhà “xóm đồng” ngày xưa vào ngày mùa lũ trẻ chúng tôi mang lúa “mót” đến đổi bánh chén bà Tài Phú giờ sao thấy xa lạ. Góc nhà anh Tạ Phi Long và bên kia là nhà ông Lộng, người thợ rèn duy nhất chuyên rèn rìu rựa cuốc xẻn cho dân làng, là con đường vào xóm nhà tôi, nay cũng không nhìn ra được! Cây cối, vết tích, nhà cửa và con đường ngày xưa nay đã khác, khác nhiều đến nỗi khó nhận ra. Tôi như người lạc đường.
Tôi nhìn vào núi, xác định Gò Đồn Gò Rú và núi Đuôi Chuột, những ngọn đồi nầy không dễ gì bị thay đổi, rồi tự kẻ trong đầu những con đường tưởng tượng nối ba đỉnh đồi trên thành khu tam giác. Tam giác này bao trùm một vùng, vùng đó là đồng Sa Băng, cánh đồng nằm ngay trước mặt làng tôi. Từ giữa cánh đồng tôi kẻ một con đường giáp chân núi Đình Cương về phía Đông, đó là con đường đi xuyên qua làng tôi, và chính xác hơn nó là con đường đi ngang qua khu nhà tôi! Từ đường Cái Quan tôi theo con đường tưởng tượng đi vào một phần ba làng, là tọa độ ngày xưa tôi u oa chào đời.
Nhưng nhà đâu?
Tôi bước chân tìm khắp nơi nhưng chẳng thấy. Lòng bồi hồi tôi nhìn người xa lạ trên mảnh đất xưa. Thấy tôi như người từ đâu mới đến, em bước lại. Tôi lượm cành cây khô, lấy tay khỏa lớp bụi đường trên mặt đất, em nhìn tôi ghi nỗi lòng lên lớp bụi đường.
Tôi theo con đường làng ra bờ sông Ba Bình. Cũng không còn như xưa. Con đường làng ngày nay nhỏ lại, bãi cát rộng lớn ngày xưa nay bị xoi mòn! Tôi đứng nhìn và hồi tưởng lại một thời nơi đây là bờ xe nước, chỗ kia là chòi xe mà nhiều đêm tôi theo Cha ra ngủ dưới đêm Hè nóng bức. Xa xa ngoài giòng sông là bờ độn xe nước chạy dài qua An Chỉ, và chỗ tôi đứng là con dốc lớn, trãi dài xuống bờ sông. Sau lưng từng là dàn máng nước chứa đầy nước sông chảy rốc rách mang vô ruộng đồng. Nơi đây những buổi trưa Hè đoàn người lớn bé và trâu bò thường ra vào: trẻ con đi tắm, người thôn nữ quay tơ trên cát, bà mẹ gìa cặm cụi cày đôi bàn chân trên những lát khoai lang khoai mì trên bãi cát nóng bỏng. Nhưng tất cả bây giờ chỉ còn lại là giòng nước ăn sâu vào bờ lởm chởm cỏ xanh. Nhìn qua bên kia bờ sông Vệ là con dốc xuống bến đò ông Đàn, ngày xưa sớm chiều chở người sang sông đi chợ chiều An Chỉ, nay đã thành cỗ tích.
Tôi quay vô làng, hầu hết những con đường ngày xưa nay đều nhỏ lại và lệch đi. Tôi nhớ ngày xưa nhà nào cũng có sân trước sân sau. Những ngày lụt lội lúa ngập chìm trong nước, người ta huy động bà con ra gặt tháo gặt để, nếu không lúa sẽ mọc thành mộng, coi như bỏ. Lúa bị ngập lụt người ta chỉ cắt ngọn lúa, bó lại thành từng bó bỏ lên ghe chở vào bờ, rồi dùng đòn xóc đâm hai đầu hai bó lúa gánh về trải đều trên sân. Sau đó dùng trâu (hay bò) cột thành chùm ba bốn con rồi một người theo sau đánh cho nó đi thành vòng tròn, dẫm lên lúa. Người đánh trâu (bò) phải cầm cái thúng để mỗi khi trâu (bò) ngõng đuôi lên là đặt cái thúng sau đít nó để hứng! Người ta dùng cây xỉa lật ngọn lúa nằm phía dưới lên cho trâu đạp, đến khi hột lúa rụng hết thì cũng dùng cây xỉa xốc rạ bỏ qua một bên và phần còn lại trên sân là hột lúa. Lúa lẫn lộn với rạ nên phải dê nhiều lần lúa mới sạch.
Cái sân ở nhà quê có nhiều công dụng như dùng để phơi lúa, phơi củ lang củ mì, đường cục, đậu, bắp, vân vân… Nói chung là dùng để phơi lúa thóc và ngũ cốc thu gặt từ ruộng đồng. Và cái sân cũng là nơi bà con giòng họ tụ tập vui chơi trong ngày giỗ, Tết nhứt. Nhưng đối với trẻ con thì cái sân và con đường làng là nơi bắn bi đánh đáo vui chơi. Và cũng nơi đây tình cảm và kỷ niệm về làng quê sẽ đi vào ký ức sau nầy. Nhưng ngày nay bước xuống cái hè là đụng đám củ mì củ lang. Có tuổi trẻ nào không gắn liền với cái sân nhà. Nhưng ngày nay mấy nhà còn có cái sân!?
Tôi trở lại thăm nhà thằng bạn cũ, ngày xưa có năm sáu thằng bạn nhưng bây giờ chỉ còn lại đây một thằng! Nó bảo
“Bao nhiêu năm rồi mầy mới trở lại, mầy muốn ăn cái gì tao sẽ đãi.”
Nhìn xung quanh cảnh nhà nó, tôi nói:
“Thôi, không cần cầu kỳ gì đâu. Mầy có món quê hương nào hông, mang ra đây nhậu chơi. Lâu rồi tao muốn ăn món đặc sản của quê mình lắm.”
“Vậy thì chuột đồng trộn mít non, mầy thấy sao?” Nó đề nghị.
Tôi liếm môi nuốt nước miếng cái ực, và trả lời nó một chữ ngắn gọn:
“Tuyệt.”
“Vậy thì tao đi hái vài trái mít non đem luột rồi xét mỏng ra, rang ít hột đậu phụng, hái ít rau răm và lá lốt là xong.”
“Còn chuột đâu, ai đi bắt?” Tôi hỏi.
“Mầy khỏi lo.” Nó quay vào nhà trong và gọi:
“Út đâu ra đây nhờ chút coi.”
“Dạ.” Cô gái miệng nhai nhỏm nhẻm đứng bên cửa nhà bếp nói ra.
“Em ra đồng bắt cho anh mấy con chuột mang về đây.”
Cô gái không trả lời, đi thẳng ra sau nhà lấy cây gậy, xong nhìn tôi cô nhoẻn miệng cười một cái, cô bước xuống hè và búng hai ngón tay ngoắt con chó chạy theo. Xéo một phút cô gái và con chó đã đi hút ngoài xa.
Tôi nói thằng bạn:
“Chỉ một mình em mầy mà là con gái mà bắt được chuột à?”
“Nghề của nó đó, mầy đừng coi thường con gái ngày nay.”
“Hay để tao đi bắt chuột với em mầy nhe, lâu rồi tao cũng muốn đi bắt chuột như ngày xưa cho vui.”
Không đợi thằng bạn trả lời, tồi liền phóng chân bước theo cô gái.
“Ông ra đây làm gì?”
“Phụ bắt chuột với em.”
“Làm sao ông bắt được chuột?”
Nhìn lại trên tay tôi không có vật gì để bắt chuột, mà chuột lại hay cắn mỗi khi bắt nó. Tôi chưng hửng đứng nhìn cô gái, hóa ra tôi chỉ theo làm bận chân cô.
“Chắc em bắt chuột giỏi lắm hả, em tên gì?”
“Mi.”
“Mi là mèo đó hả, mà mèo thì bắt chuột giỏi là đúng rồi.”
“Ông sai rồi, mèo lười bắt chuột lắm. Nó chỉ bắt khi nào thấy đói, còn không thì nó nằm yên một chỗ liếm lông thôi, nên ông không thấy em mang con mèo mà em mang con chó theo đó. Nhưng tên em là Mi như nốt thứ ba trên khung nhạc đó, anh kế em tên là Rê.”
Cô gái dẫn con chó ra mé ruộng sâu đồng Sa Băng. Cô bắt đầu đi tìm trên bờ ruộng, những nơi nào có hang là cô cuối xuống nhìn. Cô biết hang nào không có “dân cư” trong đó và cô cũng biết hang nào của rắn và hang nào của chuột. Cô giải thích:
“Cửa hang nào có dấu chấm lốm đốm là hang chuột, còn cửa hang nào trông bóng láng là hang rắn.”
“Có khi nào em đào lộn hang rắn không?”
“Ông sợ rắn lắm phải hông? Cũng có nhưng chỉ khi nào rắn vào bắt chuột trước mình và còn nằm lại trong đó.”
“Lạy Trời chuyện đó không xảy ra hôm nay.” Tôi nguyện cầu.
“Ông đừng lạy Trời mà ông nên lạy em đây nề.”
“Là sao?”
“Là chỉ có em mới cứu ông khỏi bị rắn cắn thôi. Mà sao ông về đây chỉ có một mình và khi nào ông lại ra đi?”
“Anh về đây với người anh.”
“Ý em hỏi không phải như vậy.”
“À, thì anh chỉ có một mình nên chỉ đi một mình.”
“Nói chứ em biết ông rồi. Ông về đây thấy buồn hơn vui phải hông?”
“Sao em biết?”
“Thì ông đề bài thơ nỗi lòng của ông còn trên bụi đường đó. Thôi để em bắt chuột mang về cho anh em đãi ông. Ông nhớ nếu gặp rắn thì đứng yên một chỗ đừng nhúc nhích. Ông muốn xua nó đi thì đưa mu bàn tay ra, ểnh ểnh mu lên rồi hất hất mấy ngón tay về phía trước. Còn ông muốn cầu cứu em thì cũng đưa mua bàn tay ra, ểnh ểnh mu cong lên rồi ngoắt ngoắt mấy ngón tay lại, đừng gây tiếng động rắn nó tấn công.”
“Ừ, anh sẽ nhớ.”
Cô quơ lấy một mớ cỏ, khô có ướt có, rồi nhúm lửa đốt trước miệng hang chuột. Cô lấy nón lá quạt khói cho bay vào hang, ở ngách hang khác cô cho con chó đứng chờ. Lửa càng lớn khói càng nhiều và khói chun vào mọi hang cùng ngõ hẻm nhà chuột. Chịu không nổi chuột chạy ra, một phần bị chó chụp, một phần cô gái dùng gậy phan. Cô phan rất giỏi, không con chuột nào thoát khỏi tay cô, chỉ một nhát thôi là con chuột nằm ngay đơ. Một con chuột chạy ra ở ngách khác, tôi liền nhảy đến chụp. Bị con chuột nó cắn một nhát, đau quá tôi buông ra. Cô gái nhảy đến đập nó một cái, nó chưa chết và đứng đó. Cô gái bảo tôi bắt nó bỏ vô đụt, tôi nhảy đến chụp, lại hụt, con chuột bò đi. Thấy con chuột bỏ đi, cô gái nhìn con chó rồi chỉ tay về phía tôi, quát lớn:
“Ngốc, ngốc, chạy lẹ đi bắt nó.”
Tôi bỏ cô gái ở lại một mình. Tôi đi về. Tôi giận lắm.
Hôm đó tôi nhậu chuột đồng trộn mít non với thằng bạn lâu ngày không gặp. Món nhậu ngon, rượu ngọt, tôi uống say mềm và muốn quên đi tất cả. Trong cơn say ngà ngà tôi hỏi thằng bạn:
“Em gái mi coi bộ ngông quá hả?”
“Ừ, nó ngông lắm. Mầy mà nghe nó đặt tên mấy con mèo của nó mầy cũng phải ớn, như Mai Thanh Tặc, Chu Như Tố, vân vân ... Tính nó ngông và cứng rắn lắm, nhưng hông phải lúc nào cũng vậy đâu. Những chuyện đụng đến con tim là nó mít ướt.”
“Mấy tên trên đây mang ý nghĩa gì?”
“Tao đâu có biết, nghe nó giải thích đại khái như heo mèo dê là ba con hợp nhau tức là tam hạp đó, mà con mèo nào suốt ngày ngồi vuốt bộ lông làm đẹp thì nó đặt tên là Chu Như Tố, Chu là họ nhà Trương Bát Giới đó.”
“Còn Mai Thanh Tặc là gì?”
“Ừ, thì nó nói Mai là mộc mà mèo hay mão thuộc hành mộc, còn Tắc là ba cái ngũ cốc nó đựng trong phòng nó. Con mèo nào chuyên môn leo trèo lên tủ lục lội phá phách đồ ăn của nó là nó đặt tên Mai Thanh Tặc, Tặc là giọng Huế của Tắc đó.”
“Tao nghe hay chứ có gì đâu mà ớn.”
“Ðó là chuyện của mèo, còn chó thì khác nhe mậy.”
Sáng hôm sau tôi đến từ giả thằng bạn. Khi bước ra khỏi ngõ, tôi quay đầu nhìn lại thì thấy Mi đưa tay lên vẫy tôi lại. Tôi trở lại.
“Em kêu tôi lại để nói gì tôi nữa?”
“Không có, em vẫy tay chào ông đi khỏe mạnh chứ có kêu ông lại đâu.”
“Sao tôi thấy em đưa mu bàn tay ra, ểnh ểnh mấy cái rồi ngoắt ngoắt lại.”
“Không có, cái đó là em kêu con Ngốc lại cho nó ăn. Ngốc là tên con chó em mang ra đồng Sa Băng bắt chuột cho ông hôm qua đó. Thôi, ông đi lẹ đi, không em khóc bây giờ.”
Tôi bước đi mà lòng ấm lại!
____________
Đồng Sa Băng
Lâu rồi tôi cứ hứa với lòng là sẽ có một ngày tôi quên đi những nhọc nhằn để về thăm quê hương một chuyến thật lâu, như ba bốn tháng gì đó. Tôi ước mơ sẽ được đặt chân trên khắp nẽo đường quê hương từ Nam ra Bắc, để được nhìn và thấy quê hương trong hơi thở và nhịp sống. Nhưng cũng bao lâu rồi mà tôi vẫn chưa thực hiện được giấc mơ đó, nên mãi ngậm ngùi mỗi lần nghe nhỏ Mỹ Tâm hát bài Làng Tôi. Khi tiếng nhạc và lời ca đã chìm sâu, tôi vẫn còn mơ và lời ca:
“Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn … người bốn phương”
vẫn còn ngân vang trong đầu tôi. Năm 1992 tôi nghe và xem chương trình ca nhạc “Mùa Xuân Nào Ta Về” của Paris By Night vừa phát hành. Qua lời thuyết minh của nhà văn Duyên Anh, giọng đọc trầm buồn của người thiếu nữ như giăng sâu vào tim gan với những bản tình ca, hình ảnh những chiếc cầu, ruộng đồng, sông nước, và những mái lá nghèo nàn nằm bên hàng dừa nước của làng quê Việt Nam. Đã làm tôi rơi lệ! Duyên Anh đã trải lòng nỗi nhớ và trăng trở với quê hương thật thống thiết qua lời nói, nếu tôi không lầm thì là: “làng tôi, làng anh, làng Việt Nam chúng ta nó đang xoay chiều và càng lúc càng nhanh lên rồi đó.” Như ông đã viết để hỏi: “Mùa Xuân Nào Ta Về?”
Có lẽ tôi cũng nhớ nhà như Duyên Anh, nhưng tôi không chịu nổi sự đợi chờ khi thời gian càng ngày càng trôi qua nhanh. Và có một Mùa Xuân tôi đã về.
Ngày tôi rời xa quê cũ không rượu, không trà, không có đuôi mắt dài nhìn theo bước chân tôi đi, không lễ tiễn đưa, không hồi còi tàu, không bịn rịn, và tôi cũng không biết tôi sẽ đi về đâu! Vì ngày ấy tôi chỉ là đứa bé ham vui bắt chim bắt cá trên đồng Sa Băng, thì bom đạn đổ xuống quê tôi. Thế mà Mùa Xuân đó tôi về, tóc đã hoa râm!
Đường dài mỏi cánh chim bay mãi rồi cũng đến lúc máy bay đáp xuống thành phố Sài Gòn. Tôi vẫn thương và muôn đời chỉ gọi là thành phố Sài Gòn mặc dù nó đã bị đổi tên! Anh tôi bảo lấy máy bay bay ra Đà Nẵng rồi lấy xe quanh ngược vào Quảng Ngãi cho lẹ và khỏe. Nhưng tôi quyết định đi bằng xe đò, vì tôi muốn được nhìn quang cảnh bên đường. Một con đường dài từ Sài Gòn về Quảng Ngãi, tôi tha hồ nhìn ngắm và ghi lại hình ảnh, vì có bao giờ tôi lại có được dịp may như ngày hôm nay. Và để đổi lấy những giây phút ngắm nhìn hình ảnh quê hương mà tôi hằng mong ước là thân tôi rả rời. Vì con đường dài và xấu. Nhưng nếu có lần thứ hai tôi vẫn không ngần ngại chọn con đường rả rời thân thể nầy!
Rả rời, bầm dập rồi cũng đến, và tôi đang đứng trên con đường đất đi vào chợ Thi Phổ một buổi sáng cuối Xuân. Tôi theo anh vào chợ mua ít nhang đèn để thắp cho mộ Cha và Bà Nội. Từ đây tôi nói anh chở tôi đi lại con đường xưa. Trong đời người có biết bao “con đường xưa”, những con đường xưa thường mang nhiều kỷ niệm đẹp, nhưng cũng có “con đường xưa” chỉ ghi dấu sự buồn phiền. Và con đường xưa hôm nay tôi đi lại là con đường mà ngày đó tôi chạy trốn!
Ra khỏi chợ Thi Phổ anh đèo tôi sau chiếc xe gắn máy anh mang theo từ Sài Gòn. Xe chạy về hướng thị xã Quảng Ngãi một chặp thì đến ngã ba Quán Lát, anh quẹo trái để về Hành Thịnh. Con đường đất đỏ ngoằn ngoèo đưa hai anh em tôi về xã Đức Thạch. Hai bên đường lúa xanh phơi phới và bên bờ mương tôi thấy chiếc xe đạp nước cổ kính của ngày xưa nằm phơi mình bên bờ ruộng. Tôi mừng quá, nói anh dừng xe lại. Tôi bước đến chiếc xe đạp nước đang được phủ kín bởi một tấm ni-lông bạc màu, tôi loay hoay nhìn kỷ như tìm kiếm một bảo vật, nhưng với tôi nó thật sự là một bảo vật. Thấy tôi như một đứa bé đang mân mê món đồ chơi, người chủ chiếc xe từ trong nhà bước ra. Tôi hỏi ông có thể cho tôi gỡ bỏ lớp áo ni-lông cũ kỷ để tôi chụp vài tấm hình, ông đồng ý, và hình ảnh chiếc xe đạp nước ngày xưa lại được theo tôi đi tận phương trời!
Tại đây anh tôi quẹo trái về Núi Đồi để chúng tôi thắp nhang cho Cha và Bà Nội, xong anh quanh xe lại chạy theo “con đường xưa tôi đi.” Một hồi sau chúng tôi đến chợ Vam. Đến đây tôi nói anh ngừng xe lại, tự dưng lòng tôi chùn xuống!
Nơi đây hơn bốn mươi năm về trước, năm 1965, gia đình tôi lừa bầy trâu chạy giặc từ xã Nghĩa Thành (nay là Hành Thịnh), chiều về Cha tôi cột bầy trâu ngoài chợ Vam trong khi cả nhà tạm cư trong nhà bà xã Thủ ở Đức Thạch. Tối xuống đàn trâu tự bức đức dây rồi một mình dẫn nhau trở về nhà. Sáng hôm sau Cha tôi lại đem gia đình trở về với bầy trâu. Ngày còn nhỏ có đôi lần tôi theo Mẹ xuống chợ Vam, nhưng lâu quá tôi không còn nhớ nhiều về ngôi chợ này. Chỉ nhớ đó là một ngôi chợ lớn có nhiều cá biển ngon như cá mòi, cá ngừ, cá chuồn, cá thu, cá hố, cá rựa, vân vân…, có bán đá cục, cà rem, quần áo đẹp, và có những đôi giày sơn-đanh (sandal) mà tụi con nít chúng tôi ngày ấy mơ có được một đôi để khoe trong ba ngày Tết. Mẹ tôi lâu lâu mới đi chợ Vam một lần, và mỗi lần được theo Mẹ đi xuống chợ Vam tôi mừng lắm.
Nhưng bãi đất và hàng cột ngày xưa Cha tôi cột đàn trâu nay không còn thấy nữa.
Tôi đứng trầm ngâm nhìn lại cảnh xưa một hồi, rồi nói anh tôi chở đi.
Một lát sau chúng tôi đến khu gò mã. Gò mã nầy ngày xưa có nhiều hàng Dương Liễu. Từ lối đi giữa mồ mã, tẻ ra một con đường mòn nhỏ để vào nhà bà xã Thủ ở Đức Thạch. Tôi lại nói anh ngừng xe lại. Nhìn những bụi xấp xôi và hàng cây bời lời hai bên đường tôi nhớ đến một buổi chiều.
Một buổi chiều cuối mùa Xuân năm 1965, khi tiếng súng tạm ngưng tôi dẫn đứa em trai, vai mang túi chanh tươi và mấy cục đường cát trắng, từ xã Nghĩa Thành xuống thăm người chị theo chồng đi lính, đang đóng quân ở quận Mộ Đức. Lúc đó xã Nghĩa Thành đã nằm dưới quyền kiểm soát của “quân giải phóng”. Việc đầu tiên “quân giải phóng” làm khi họ chiếm ngôi làng là đốn những bụi tre già nằm hai bên con đường chính trong làng, cho nằm ngỗn ngang bít lối đi chính. Tôi dẫn đứa em len lỏi trong vườn tược nhà người ta, nhìn đâu đâu cũng thấy đổ nát. Xóm làng lúc nầy nhiều người đã bỏ đi nên rất vắng lạnh. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp vài người du kích mang AK đi trong vườn cũng đủ sợ đứng tim. Tôi đi trên đoạn đường ngắn từ thôn Ba Bình đến đập Bến Thóc mà dường như dài vô tận, tinh thần căng thẳng như đi trong vùng tử địa! Tôi rất sợ bị du kích bắt gặp, dường như ngày đó họ có một ma lực khiến cả những đứa bé như tôi cũng khiếp sợ, và dường như họ có toàn quyền sinh sát những thành phần thuộc gia đình khá dã mà họ cho là giai cấp tư bản. Khi đến sông Thoa, bên kia bờ là xã Đức Thạch quận Mộ Đức thuộc vùng kiểm soát của Quốc Gia.
Anh em tôi run và sợ, hồi hộp bước lên cầu đập Bến Thóc, cây cầu làm bằng gỗ bắc qua sông Thoa để rời khỏi vùng Cọng Sản kiểm soát. Qua bên kia sông Thoa không còn thấy hình bóng người du kích nữa. Nhưng con đường cũng không có ai đi, vắng, lạnh, và mang một màu tang thương như bãi chiến trường vừa trãi qua cơn binh biến! Đi thêm một khúc tôi đến Gò Rộng là một bãi cỏ dùng làm sân vận động, xung quanh có nhiều cây Dương Liễu. Những ngọn gió thổi xuyên qua rừng Dương tạo thành những âm thanh rì rào nghe đến não nùng!
Tại Gò Rộng nầy những ngày thanh bình tôi theo mấy người anh lớn từ xã Hành Thịnh xuống đây đá banh và đua xe đạp. Bình thường khi nghĩ tới đua xe là tôi liên tưởng đến những tay cua-rơ cắm đầu cắm cổ chạy như chạy chết. Nhưng trong cuộc đua này người thắng cuộc không phải là người chạy nhanh nhất, mà ngược lại! Anh nào chạy chậm nhất, và tất nhiên không được ngã xuống đất, cộng thêm vào đó các anh phải giữ thăng bằng và cuối người xuống đất lượm cho được chiếc mũ nĩ thì thắng cuộc. Ngày đó các anh lớn quê tôi bày những trò chơi thể thao ngược đời!
Hôm đó Gò Rộng bao trùm tử khí. Qua khỏi Gò Rộng là đến khu gò mã, lối vào nhà bà xã Thủ. Không khí nơi đây còn rùng rợn hơn, không bóng người đi, chỉ có tiếng gió rì rào của rừng Dương, và những mảnh giấy vụn gió thổi lăn lóc trên những nắm mồ. Anh em tôi bước đi trong sợ hãi. Bất chợt có tiếng la lên: “Đứng lại. Đi đâu đó.” Và liền sau tiếng la là vài ba người ôm súng phóng ra từ bựi rậm đè đầu hai anh em tôi xuống đất. Họ lục xét trong túi vải tôi mang theo rồi hỏi lại một lần nữa: “Mang ba thứ nầy đi đâu?” Tôi sợ tái mặt và run run nói: “Em mang đường và chanh xuống thăm người chị dưới quận Mộ Đức.” Họ xem xét một hồi không thấy có gì khả nghi nên thả hai anh em tôi đi. Thì ra các ông là những người lính Dân Vệ đang rình mấy ông du kích. Vậy là anh em tôi thoát khỏi cửa ải tử thần, tôi mừng vì đã thật sự đặt chân vào vùng Quốc Gia an toàn. Và hai anh em tôi đi như bay xuống ngôi làng nhỏ nằm sau Quốc Lộ 1, đối diện quận lỵ Mộ Đức.
Qua khỏi “con đường xưa tôi đi” tức từ chợ Vam đến gò mã nhà bà xã Thủ, qua Gò Rộng, đến đập Bến Thóc, thôn An Ba, Mỹ Hưng, Đồng Xuân là đến thôn Ba Bình. Tôi vui mừng như ngày mới lớn theo Mẹ đi chợ. Tôi đã về nhà! Về lại mái nhà xưa, nơi chôn nhau cắt rún!
Lâu lắm rồi tôi mới trở lại, tôi lức láo nhìn xung quanh cố tìm một vết tích quen thuộc của ngày xưa. Cổng ngọ môn vào làng bắt choàng qua đường Cái Quan nay đã mất. Dãy nhà “xóm đồng” ngày xưa vào ngày mùa lũ trẻ chúng tôi mang lúa “mót” đến đổi bánh chén bà Tài Phú giờ sao thấy xa lạ. Góc nhà anh Tạ Phi Long và bên kia là nhà ông Lộng, người thợ rèn duy nhất chuyên rèn rìu rựa cuốc xẻn cho dân làng, là con đường vào xóm nhà tôi, nay cũng không nhìn ra được! Cây cối, vết tích, nhà cửa và con đường ngày xưa nay đã khác, khác nhiều đến nỗi khó nhận ra. Tôi như người lạc đường.
Tôi nhìn vào núi, xác định Gò Đồn Gò Rú và núi Đuôi Chuột, những ngọn đồi nầy không dễ gì bị thay đổi, rồi tự kẻ trong đầu những con đường tưởng tượng nối ba đỉnh đồi trên thành khu tam giác. Tam giác này bao trùm một vùng, vùng đó là đồng Sa Băng, cánh đồng nằm ngay trước mặt làng tôi. Từ giữa cánh đồng tôi kẻ một con đường giáp chân núi Đình Cương về phía Đông, đó là con đường đi xuyên qua làng tôi, và chính xác hơn nó là con đường đi ngang qua khu nhà tôi! Từ đường Cái Quan tôi theo con đường tưởng tượng đi vào một phần ba làng, là tọa độ ngày xưa tôi u oa chào đời.
Nhưng nhà đâu?
Tôi bước chân tìm khắp nơi nhưng chẳng thấy. Lòng bồi hồi tôi nhìn người xa lạ trên mảnh đất xưa. Thấy tôi như người từ đâu mới đến, em bước lại. Tôi lượm cành cây khô, lấy tay khỏa lớp bụi đường trên mặt đất, em nhìn tôi ghi nỗi lòng lên lớp bụi đường.
Tôi theo con đường làng ra bờ sông Ba Bình. Cũng không còn như xưa. Con đường làng ngày nay nhỏ lại, bãi cát rộng lớn ngày xưa nay bị xoi mòn! Tôi đứng nhìn và hồi tưởng lại một thời nơi đây là bờ xe nước, chỗ kia là chòi xe mà nhiều đêm tôi theo Cha ra ngủ dưới đêm Hè nóng bức. Xa xa ngoài giòng sông là bờ độn xe nước chạy dài qua An Chỉ, và chỗ tôi đứng là con dốc lớn, trãi dài xuống bờ sông. Sau lưng từng là dàn máng nước chứa đầy nước sông chảy rốc rách mang vô ruộng đồng. Nơi đây những buổi trưa Hè đoàn người lớn bé và trâu bò thường ra vào: trẻ con đi tắm, người thôn nữ quay tơ trên cát, bà mẹ gìa cặm cụi cày đôi bàn chân trên những lát khoai lang khoai mì trên bãi cát nóng bỏng. Nhưng tất cả bây giờ chỉ còn lại là giòng nước ăn sâu vào bờ lởm chởm cỏ xanh. Nhìn qua bên kia bờ sông Vệ là con dốc xuống bến đò ông Đàn, ngày xưa sớm chiều chở người sang sông đi chợ chiều An Chỉ, nay đã thành cỗ tích.
Tôi quay vô làng, hầu hết những con đường ngày xưa nay đều nhỏ lại và lệch đi. Tôi nhớ ngày xưa nhà nào cũng có sân trước sân sau. Những ngày lụt lội lúa ngập chìm trong nước, người ta huy động bà con ra gặt tháo gặt để, nếu không lúa sẽ mọc thành mộng, coi như bỏ. Lúa bị ngập lụt người ta chỉ cắt ngọn lúa, bó lại thành từng bó bỏ lên ghe chở vào bờ, rồi dùng đòn xóc đâm hai đầu hai bó lúa gánh về trải đều trên sân. Sau đó dùng trâu (hay bò) cột thành chùm ba bốn con rồi một người theo sau đánh cho nó đi thành vòng tròn, dẫm lên lúa. Người đánh trâu (bò) phải cầm cái thúng để mỗi khi trâu (bò) ngõng đuôi lên là đặt cái thúng sau đít nó để hứng! Người ta dùng cây xỉa lật ngọn lúa nằm phía dưới lên cho trâu đạp, đến khi hột lúa rụng hết thì cũng dùng cây xỉa xốc rạ bỏ qua một bên và phần còn lại trên sân là hột lúa. Lúa lẫn lộn với rạ nên phải dê nhiều lần lúa mới sạch.
Cái sân ở nhà quê có nhiều công dụng như dùng để phơi lúa, phơi củ lang củ mì, đường cục, đậu, bắp, vân vân… Nói chung là dùng để phơi lúa thóc và ngũ cốc thu gặt từ ruộng đồng. Và cái sân cũng là nơi bà con giòng họ tụ tập vui chơi trong ngày giỗ, Tết nhứt. Nhưng đối với trẻ con thì cái sân và con đường làng là nơi bắn bi đánh đáo vui chơi. Và cũng nơi đây tình cảm và kỷ niệm về làng quê sẽ đi vào ký ức sau nầy. Nhưng ngày nay bước xuống cái hè là đụng đám củ mì củ lang. Có tuổi trẻ nào không gắn liền với cái sân nhà. Nhưng ngày nay mấy nhà còn có cái sân!?
Tôi trở lại thăm nhà thằng bạn cũ, ngày xưa có năm sáu thằng bạn nhưng bây giờ chỉ còn lại đây một thằng! Nó bảo
“Bao nhiêu năm rồi mầy mới trở lại, mầy muốn ăn cái gì tao sẽ đãi.”
Nhìn xung quanh cảnh nhà nó, tôi nói:
“Thôi, không cần cầu kỳ gì đâu. Mầy có món quê hương nào hông, mang ra đây nhậu chơi. Lâu rồi tao muốn ăn món đặc sản của quê mình lắm.”
“Vậy thì chuột đồng trộn mít non, mầy thấy sao?” Nó đề nghị.
Tôi liếm môi nuốt nước miếng cái ực, và trả lời nó một chữ ngắn gọn:
“Tuyệt.”
“Vậy thì tao đi hái vài trái mít non đem luột rồi xét mỏng ra, rang ít hột đậu phụng, hái ít rau răm và lá lốt là xong.”
“Còn chuột đâu, ai đi bắt?” Tôi hỏi.
“Mầy khỏi lo.” Nó quay vào nhà trong và gọi:
“Út đâu ra đây nhờ chút coi.”
“Dạ.” Cô gái miệng nhai nhỏm nhẻm đứng bên cửa nhà bếp nói ra.
“Em ra đồng bắt cho anh mấy con chuột mang về đây.”
Cô gái không trả lời, đi thẳng ra sau nhà lấy cây gậy, xong nhìn tôi cô nhoẻn miệng cười một cái, cô bước xuống hè và búng hai ngón tay ngoắt con chó chạy theo. Xéo một phút cô gái và con chó đã đi hút ngoài xa.
Tôi nói thằng bạn:
“Chỉ một mình em mầy mà là con gái mà bắt được chuột à?”
“Nghề của nó đó, mầy đừng coi thường con gái ngày nay.”
“Hay để tao đi bắt chuột với em mầy nhe, lâu rồi tao cũng muốn đi bắt chuột như ngày xưa cho vui.”
Không đợi thằng bạn trả lời, tồi liền phóng chân bước theo cô gái.
“Ông ra đây làm gì?”
“Phụ bắt chuột với em.”
“Làm sao ông bắt được chuột?”
Nhìn lại trên tay tôi không có vật gì để bắt chuột, mà chuột lại hay cắn mỗi khi bắt nó. Tôi chưng hửng đứng nhìn cô gái, hóa ra tôi chỉ theo làm bận chân cô.
“Chắc em bắt chuột giỏi lắm hả, em tên gì?”
“Mi.”
“Mi là mèo đó hả, mà mèo thì bắt chuột giỏi là đúng rồi.”
“Ông sai rồi, mèo lười bắt chuột lắm. Nó chỉ bắt khi nào thấy đói, còn không thì nó nằm yên một chỗ liếm lông thôi, nên ông không thấy em mang con mèo mà em mang con chó theo đó. Nhưng tên em là Mi như nốt thứ ba trên khung nhạc đó, anh kế em tên là Rê.”
Cô gái dẫn con chó ra mé ruộng sâu đồng Sa Băng. Cô bắt đầu đi tìm trên bờ ruộng, những nơi nào có hang là cô cuối xuống nhìn. Cô biết hang nào không có “dân cư” trong đó và cô cũng biết hang nào của rắn và hang nào của chuột. Cô giải thích:
“Cửa hang nào có dấu chấm lốm đốm là hang chuột, còn cửa hang nào trông bóng láng là hang rắn.”
“Có khi nào em đào lộn hang rắn không?”
“Ông sợ rắn lắm phải hông? Cũng có nhưng chỉ khi nào rắn vào bắt chuột trước mình và còn nằm lại trong đó.”
“Lạy Trời chuyện đó không xảy ra hôm nay.” Tôi nguyện cầu.
“Ông đừng lạy Trời mà ông nên lạy em đây nề.”
“Là sao?”
“Là chỉ có em mới cứu ông khỏi bị rắn cắn thôi. Mà sao ông về đây chỉ có một mình và khi nào ông lại ra đi?”
“Anh về đây với người anh.”
“Ý em hỏi không phải như vậy.”
“À, thì anh chỉ có một mình nên chỉ đi một mình.”
“Nói chứ em biết ông rồi. Ông về đây thấy buồn hơn vui phải hông?”
“Sao em biết?”
“Thì ông đề bài thơ nỗi lòng của ông còn trên bụi đường đó. Thôi để em bắt chuột mang về cho anh em đãi ông. Ông nhớ nếu gặp rắn thì đứng yên một chỗ đừng nhúc nhích. Ông muốn xua nó đi thì đưa mu bàn tay ra, ểnh ểnh mu lên rồi hất hất mấy ngón tay về phía trước. Còn ông muốn cầu cứu em thì cũng đưa mua bàn tay ra, ểnh ểnh mu cong lên rồi ngoắt ngoắt mấy ngón tay lại, đừng gây tiếng động rắn nó tấn công.”
“Ừ, anh sẽ nhớ.”
Cô quơ lấy một mớ cỏ, khô có ướt có, rồi nhúm lửa đốt trước miệng hang chuột. Cô lấy nón lá quạt khói cho bay vào hang, ở ngách hang khác cô cho con chó đứng chờ. Lửa càng lớn khói càng nhiều và khói chun vào mọi hang cùng ngõ hẻm nhà chuột. Chịu không nổi chuột chạy ra, một phần bị chó chụp, một phần cô gái dùng gậy phan. Cô phan rất giỏi, không con chuột nào thoát khỏi tay cô, chỉ một nhát thôi là con chuột nằm ngay đơ. Một con chuột chạy ra ở ngách khác, tôi liền nhảy đến chụp. Bị con chuột nó cắn một nhát, đau quá tôi buông ra. Cô gái nhảy đến đập nó một cái, nó chưa chết và đứng đó. Cô gái bảo tôi bắt nó bỏ vô đụt, tôi nhảy đến chụp, lại hụt, con chuột bò đi. Thấy con chuột bỏ đi, cô gái nhìn con chó rồi chỉ tay về phía tôi, quát lớn:
“Ngốc, ngốc, chạy lẹ đi bắt nó.”
Tôi bỏ cô gái ở lại một mình. Tôi đi về. Tôi giận lắm.
Hôm đó tôi nhậu chuột đồng trộn mít non với thằng bạn lâu ngày không gặp. Món nhậu ngon, rượu ngọt, tôi uống say mềm và muốn quên đi tất cả. Trong cơn say ngà ngà tôi hỏi thằng bạn:
“Em gái mi coi bộ ngông quá hả?”
“Ừ, nó ngông lắm. Mầy mà nghe nó đặt tên mấy con mèo của nó mầy cũng phải ớn, như Mai Thanh Tặc, Chu Như Tố, vân vân ... Tính nó ngông và cứng rắn lắm, nhưng hông phải lúc nào cũng vậy đâu. Những chuyện đụng đến con tim là nó mít ướt.”
“Mấy tên trên đây mang ý nghĩa gì?”
“Tao đâu có biết, nghe nó giải thích đại khái như heo mèo dê là ba con hợp nhau tức là tam hạp đó, mà con mèo nào suốt ngày ngồi vuốt bộ lông làm đẹp thì nó đặt tên là Chu Như Tố, Chu là họ nhà Trương Bát Giới đó.”
“Còn Mai Thanh Tặc là gì?”
“Ừ, thì nó nói Mai là mộc mà mèo hay mão thuộc hành mộc, còn Tắc là ba cái ngũ cốc nó đựng trong phòng nó. Con mèo nào chuyên môn leo trèo lên tủ lục lội phá phách đồ ăn của nó là nó đặt tên Mai Thanh Tặc, Tặc là giọng Huế của Tắc đó.”
“Tao nghe hay chứ có gì đâu mà ớn.”
“Ðó là chuyện của mèo, còn chó thì khác nhe mậy.”
Sáng hôm sau tôi đến từ giả thằng bạn. Khi bước ra khỏi ngõ, tôi quay đầu nhìn lại thì thấy Mi đưa tay lên vẫy tôi lại. Tôi trở lại.
“Em kêu tôi lại để nói gì tôi nữa?”
“Không có, em vẫy tay chào ông đi khỏe mạnh chứ có kêu ông lại đâu.”
“Sao tôi thấy em đưa mu bàn tay ra, ểnh ểnh mấy cái rồi ngoắt ngoắt lại.”
“Không có, cái đó là em kêu con Ngốc lại cho nó ăn. Ngốc là tên con chó em mang ra đồng Sa Băng bắt chuột cho ông hôm qua đó. Thôi, ông đi lẹ đi, không em khóc bây giờ.”
Tôi bước đi mà lòng ấm lại!
____________
Đồng Sa Băng
Ông Già Nuôi
28 January 2012 - 01:34 PM
Ông Già Nuôi
Sau tháng 11 năm 1963, vào những buổi trưa nhất là mùa Hè nóng cháy người ta thường thấy một “ông già” mặt đỏ, lưng đeo gùi, quần áo ngay thẳng đầu đội chiếc nón lá rách tả tơi đi ngang qua làng. Đặc biệt là ông không bao giờ đi trong làng mà chỉ đi giữa cánh đồng. Ông đi từ quận Mộ Đức lên thôn An Ba, đi xuyên qua xã Hành Thịnh (xưa là xã Nghĩa Thành) lên đèo Quán Thơm, rồi biến mất! Nhưng vài ba ngày sau người ta thấy ông đi lại đoạn đường trên! Nghĩa là cũng từ đồng bằng quận Mộ Đức đi về núi, nhưng không thấy ông đi từ núi xuống đồng!
Người trong làng gọi ông là “ông gìa nuôi.”
Gọi là ông “già” nhưng thực sự ông còn dáng vóc trẻ trung của một người vừa qua năm mươi. “Ông già nuôi” không nói, không tiếp xúc với ai, và lúc nào mặt ông cũng đỏ như màu bả trầu vừa phẹt ra từ miệng của một bà già. Đã thế ông còn gay gắt và chống đối kịch liệt khi có người muốn tiếp cận ông.
Người ta muốn biết ông đựng ngữ gì trong cái gùi trên lưng.
Nhưng mỗi lần có ai đến gần, ông lại phùng mang chống cự quyết bảo vệ cái gùi trên lưng, nên riết rồi ai ai cũng để mặc ông đi qua làng.
Nhưng đám con nít thì khác. Chúng cố tìm “ông già nuôi” mang những gì trong cái gùi!
Hôm nào ông già nuôi đi ngang qua làng là đám con nít lại báo tin cho nhau rồi bu theo. Chúng chọc ghẹo phá phách và xem ông già nuôi như một quái vật! Chúng tò mò muốn biết ông già nuôi ăn cái gì, nhà ở đâu, vợ con đâu, sao chỉ thấy một mình đi gữa trưa nắng chang chang như người điên, ông có tên không, tên ông gọi là gì? Bao nhiêu thắc mắc và tra tấn nhưng ông già nuôi vẫn trơ trơ không nói đến một lời, mà ngược lại ông nhìn đám con nít với cặp mắt đỏ ngầu như mắt trâu điên, và ông như sẳn sàng xé thịt những đứa nào dám mạo hiểm đến gần. Đám con nít mất đi kiên nhẩn và trở thành bạo động. Chúng chửi bới, chúng chọi đất, reo hò rượt đuổi ông già nuôi. Nhưng rồi những ngày hôm sau đám con nít lại mong có ông già nuôi đi ngang qua làng, với chúng ông già nuôi là một cái gì đó để chọc ghẹo vui chơi, nên thấy vắng lại buồn!
Không ai biết “ông già nuôi” là ai, từ đâu đến. Nhưng có điều là tại sao ông lại xuất hiện giữa thời buổi nầy, thời buổi lọan ly! Phải chăng ông là người điên trong thời loạn!
Thực dân Pháp tháo chạy sau một trăm năm đô hộ, đất nước hòa bình nhưng bị chia đôi ở vĩ tuyến 17. Nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thiết lập ở miền Nam Việt Nam năm 1955, nhưng nó đã bị bức tử vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Từ đó những ngày tháng thanh bình dần dần biến mất và chiến tranh bắt đầu sinh sôi nảy nở.
Và “chiến trường” là xã Hành Thịnh, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thời điểm: năm 1964, 1965. Địa thế chiến trường: Bắc giáp sông, Tây và Nam giáp núi, Đông làng mạc kéo dài và tiếp nối đến Quốc Lộ 1.
Những ngày đầu cuộc chiến giao tranh thường xảy ra lẻ tẻ giữa một trung đội Dân Vệ và du kích quân. Người dân bắt đầu nghe lại tiếng súng cắt bùm và tạch tạch. Có hôm ông Ðại Diện xã Trần Cầu dẫn một tiểu đội Dân Vệ ban đêm vô núi tìm tung tích và truy nã kẻ địch. Nhưng càng về sau lính ông Ðại Diện xã chỉ cần ra đến giữa đồng là bị bên kia phục kích sẳn dưới đám đất cày. Họ chộ nhau bằng những cú chọi đất giữa đêm đen, vậy là bên này chùn bước nằm nghe ngóng! Rồi họ cắt phá bờ rào vi chun vô làng. Lần đột nhập đầu tiên vào làng là những người du kích quân. Giữa đêm đen người du kích vào sân sau nhà ông Ðại Diện xã tìm kiếm thức ăn. Trong khi tẩu thoát người du kích bị bắn chết, khi trong tay còn mang con vịt vừa bị bẻ gãy cổ! Ðây là chiến công đầu tiên của trung đội Dân Vệ.
Sáng ngày hôm sau Dân Vệ mang xác người du kích bêu lên bờ rào vi rồi mời ông quận Trưởng quận Nghĩa Hành xuống xem chiến công. Lính quận mang theo cây đại liên 50 đặt bên cạnh bờ rào vi và bắn băng đạn dài cả thước rào rào vào núi. Tiếng cụi của tràng đại liên 50 xé tan bầu không khí dội về rừng mang theo tín hiệu báo cho quân du kích biết rằng, những viên đạn đồng này là hứa hẹn cho sự quấy nhiễu của họ! Và tối hôm đó họ xuống mang xác người du kích về rừng. Ðó là tổn thất nhân mạng đầu tiên trong làng này.
Bẳn đi một thời gian yên tịnh rồi một hôm trung đội Dân Vệ được tin bên kia tập trung quân số du kích trong rừng. Tối về trung đội Dân Vệ rút vào giữa làng nằm kích dưới khu đất trũng tại vườn nhà ông Ngoạt. Trong đêm tối bên kia tiến quân bò lên vườn nhà thờ Thiên Chúa Giáo, nơi đất cao hơn nằm cạnh vườn nhà ông Ngoạt. Khi bóng người nằm trong tầm nút rùi, những khẩu súng Carbin của Dân Vệ thi nhau khạc đạn. Ánh sáng lóe chớp trên đầu súng và những viên đạn lửa vạch màng đêm với âm thanh réo réc nổ banh những bia đạn nằm trên vườn nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Họ thất trận. Gần chục xác du kích đầu chít khăn đỏ, mặc quần đùi nằm co queo mình mẫy trắng như bông! Bên Dân Vệ vẫn bảo toàn lực lượng. Và cũng trong bóng đêm họ trở về mang xác đi.
Chiến trường bắt đầu hâm nóng lên. Bên kia trở lại với bộ đội chính quy, súng ống và quân số đông đảo, họ đẩy lui trung đội Dân Vệ trong một buổi sáng. Giao tranh xảy ra ngay trong khuôn viên cơ quan hội đồng xã, họ đánh bật và rượt đuổi Dân Vệ chạy về ngã Ðức Thạch, nơi có quân tiếp viện đang ứng chiến. Giữa tiếng súng của phe Cọng Sản trên nầy bắn xuống, và tiếng súng yểm trợ của Quốc Gia ở dưới bắn lên, một người lính Dân Vệ nằm ngay giữa hai làng đạn bỗng rơi mình xuống con mương ấp chiến lược. Người lính chính quy nghĩ mình đã bắn ngã tên lính Dân Vệ, tiến lại nhìn xuống mương xác nhận chiến công rồi quay đầu trở lại. Nhưng dưới mương người lính Dân vệ đội đám rong rêu nín thở hụp sâu dưới nước! Vậy mà thoát chết!
Ngày hôm sau quân Quốc Gia tái chiếm cơ quan hội đồng xã. Và ngay sau đó một đại đội địa phương quân, đại đội ông Nghiễm về đóng trong làng. Người dân hân hoang chào đón và tri ân những người chiến binh giữ gìn làng mạc. Những bài ca như Ði Quân Dịch, Tình Anh Lính Chiến được những cô thôn nữ trong làng ca vang, và những người nông dân hiện rõ niềm vui trên cánh đồng. Ngày đó dân làng quen gọi là đại đội ông Nghiễm vì Thiếu Úy Nghiễm là đại đội trưởng nhưng không có đại đội phó. Người trợ lý đắc lực của Thiếu Úy Nghiễm là Thượng Sĩ Thâm, một Thượng Sĩ già. Trung Sĩ Chi là hạ sĩ quan tình báo và Rú là tay xạ thủ đại liên khét tiếng. Rú người dân tộc Nùng, to con khỏe mạnh có thể ôm cây đại liên 50 trên tay riết cò cả bân đạn.
Những ngày kế tiếp người ta lại thấy ông già nuôi xuất hiện đi ngang qua làng. Đám con nít chọi đất vào người và chạy theo rượt đuổi ông già nuôi. Bất chợt ông vấp chân té ngã và chiếc gùi trên lưng sút ra lăn tròn trên mặt đường! Ông già nuôi vội vã chạy đến chụp chiếc gùi, nhưng đã trể! Một con heo con từ trong gùi chạy ra kêu en éc. Đám con nít lại reo mừng rượt đuổi con heo con. Nhưng không ai lanh chân bằng ông già nuôi và cuối cùng ông đã bắt lại con heo con, bỏ vô gùi cắm đầu chạy về chân núi đèo Quán Thơm. Từ đó đám con nít rêu rao rằng ông già nuôi đựng con heo con trong gùi và ăn sống thịt heo con nên mắt lúc nào cũng đỏ như trâu điên! Và không ai còn quan tâm đến ông già nuôi khùng khùng điên điên nữa!
Lính ông Nghiễm ban ngày đóng quân tại các nhà của dân trong làng, tối về đi kích ngoài ruộng đồng canh chừng du kích quân. Tết năm 1965 cả làng có một mùa Xuân an vui.
Lính địa phương quân chỉ đóng quân một thời gian ngắn tại làng mạc nào đó rồi sẽ di chuyển đến làng khác. Sau bốn tháng, giữa mùa Xuân năm 1965 đại đội ông Nghiễm rời xã Nghĩa Thành mang quân về bảo vệ quận lỵ Mộ Đức. Trong một lần đụng độ với cọng quân tại cầu Cây Bứa, đại đội ông Nghiễm tổn thất nặng, chỉ còn lại hơn nửa quân số và trong đó có Trung Sĩ Chi. Trong trận cầu Cây Bứa Rú xạ thủ đại liên 50 bị cọng quân bắt sống. Sau trận cầu Cây Bứa Trung Sĩ Chi được thăng cấp Chuẩn Úy. Rồi những trận kế tiếp Chuẩn Úy Chi giữ tròn tính mạng và lại được thăng cấp. Đến năm 1967 Trung Úy Chi vào Sài Gòn học khóa bổ túc đặc biệt để trở về lên lon Đại Úy. Cuối cùng Đại Úy Trần Đình Chi, người Bình Định, thăng cấp Thiếu Tá. Trong quân đội ngày ấy có hai cách để lên lon lẹ: một là có bằng Tú Tài và tốt nghiệp từ trường võ bị, hai là không tốt nghiệp từ trường võ bị nhưng đánh giặc giỏi. Thiếu Tá Trần Đình Chi là người thứ hai nói trên. Và tiếc thay, trong cuộc hành quân qua đèo Eo Gió, xe ‘ríp’ Thiếu Tá Chi bị trúng B40 tại đèo Đá Bàng núi Đình Cương, rớt xuống vực sâu sông Vệ và bỏ mình tại đó!
Đại đội ông Nghiễm đi thì đại đội ông Thắng đến. Thiếu Úy Thắng là đại đội trưởng và Chuẩn Úy Học đại đội phó. Mú là đầu bếp cho đại đội ông Thắng.
Quân chính quy Bắc Việt tràn xuống chiến trường miền Nam càng ngày càng nhiều. Khoảng đầu năm 1965 quân Bắc Việt dồn dập tấn công những làng cận sơn ở miền Trung. Tại xã Nghĩa Thành một đại đội chủ lực quân ve vảng trong chân nuí Giàng thâu thập tin tức từ du kích quân là những người nhảy núi ở địa phương. Sau khi nắm được tình hình, quân chủ lực chọc mũi dùi tại các thôn nằm giáp chân đèo Quán Thơm, họ đẩy lui đại đội ông Thắng và chiếm đóng xã Nghĩa Thành. Trong trận tấn công này tổn thất hai bên không đáng kể vì trước hỏa lực hùng mạnh và cả quân số của quân chủ lực Bắc Việt, đại đội ông Thắng rút lui để bảo tồn quân số. Bốn năm ngày sau đại đội ông Thắng được sự yểm trợ của đơn vị bạn, pháo từ đồn Cộng Hòa và trung đội thiết giáp. Cuộc hành quân tái chiếm xã Nghĩa Thành được mở ra từ hai mũi: Thứ nhất quân ông Thắng tiến lên từ đập Bến Thóc, và thứ nhì đoàn thiết vận xa từ An Chỉ Nghĩa Phước bơi qua sông Vệ. Với sự yểm trợ của đại bác 155 ly dội liên tiếp từ đồn Cộng Hòa, đoàn xe tăng ào ạc bơi qua sông tiến vào khúc giữa xã Nghĩa Thành. Với chiến lược chận đường rút của quân Bắc Việt do mũi dùi đoàn quân ông Thắng và đại đội yểm trợ đánh lên từ đập Bến Thóc. Giao tranh xảy ra kịch liệt. Đoàn xe tăng cày nát ruộng lúa tiêu diệt đoàn quân Bắc Việt trên đường rút vô núi qua cánh đồng trước làng. Trong khi cánh quân ông Thắng và đơn vị yểm trợ bám sát đẩy lùi đại đội chính quy Bắc Việt về chụm cho đoàn thiết vận xa. Tiếng súng AK47 và tiếng Thompson, Garand, đại liên trên mui thiết giáp xa nổ vang rền bầu trời xã Nghĩa Thành, khói xanh bốc lên thành từng cột. Cánh địa phương quân đụng độ một toán cọng quân trong đó có một tay xạ thủ AK47 thật lợi hại, anh ta hăng say chiến đấu hết mình bên đồng đội. Tiếng súng AK47 áp đảo làm rát chân và nhiều lần chận đứng bước tiến của lính địa phương quân.
Trong trận tái chiếm xã Nghĩa Thành đại đội ông Thắng và đơn vị yểm trợ hạ sát và bắt sống một số tù binh quân Bắc Việt, trong số tù binh đó có một người đã từng đứng trong hàng ngũ địa phương quân của Quốc Gia chiến đấu mãnh liệt chống lại quân miền Bắc, đó chính là xạ thủ AK47! Ðúng, anh ta chính là xạ thủ đại liên 50 Rú của đại đội ông Nghiễm bị cọng quân bắt sống trong trận cầu Cây Bứa!
Sau khi bị bắt xạ thủ Rú xin được tái gia nhập quân đội Quốc Gia để đánh lại quân Cọng Sản! Cấp chỉ huy tìm hiểu lai lịch, biết khả năng đánh giặc của Rú và đã chấp nhận cho Rú gia nhập lại địa phương quân. Và ngay lập tức anh ta ôm đại liên 50 chung vai sát cánh quay đầu 180 độ tấn công quân đội Bắc Việt không một chút nương tay! Nhưng trong một trận giao tranh khác Rú bị quân miền Bắc bắt sống và anh ta lại ôm AK47 quay đầu hăng say chống lại quân đội miền Nam! Cho đến một hôm xạ thủ AK47 Rú tham chiến trong trận đánh lớn tại chiến trường Đổ Xóa, quân miền Bắc và miền Nam bao vây lẫn nhau nhiều vòng. Phòng chỉ huy kêu gọi giải cứu và hoanh tạc cơ Skyraider ném bom tiêu diệt. Trong số tử trận của quân Bắc Việt có xạ thủ AK47 Rú!
Có lẽ trong suy tư của xạ thủ Rú chiến tranh này chắc chắn sẽ không bao giờ là “chiến tranh ý thức hệ”, có chăng chỉ là cuộc nội chiến do ngọai bang tác động cho anh em một nhà chém giết lẫn nhau, cho nên dù cầm súng bên đây hay bên kia có khác gì!? Nhưng đó có thể là tư duy của Rú vì Rú cũng chỉ là một dân tộc thiểu số và đã làm sai lạc lý tưởng chận đứng sự bành trướng Cọng Sản đỏ của quân dân miền Nam. Nhưng cái đáng nói là hệ lụy của cuộc chiến. Hệ lụy đó là Việt Nam đã rơi vào quỹ đạo của chế độ Cọng Sản. Chế độ này đã và đang đưa đất nước đến đâu thì chắc hẳn người Việt Nam hiểu rỏ hơn ai. Vấn đề là những người đã theo, ủng hộ, và cộng tác để đưa đất nước đến hiện trạng ngày nay cần suy nghĩ và tìm cho mình câu trả lời chính xác cho câu hỏi: Tại sao người lảnh đạo Bắc Việt ngày ấy lại tôn thờ chịu sai khiến và nhận viện trợ từ Trung Quốc để tiến chiếm miền Nam Việt Nam, trong khi toàn dân Việt Nam muôn đời xem Trung Quốc là nỗi đe dọa và là kẻ thù xâm lược truyền kiếp của dân tộc?!
Sau khi đẩy lui bộ đội Bắc Việt đại đội địa phương quân ông Thắng tiếp tục đóng quân ở xã Nghĩa Thành để bảo vệ người dân làm ăn. Nhưng cũng sau lần thất trận trên bộ đội miền Bắc gia tăng quân số. Dường như mỗi đêm đều có đụng độ, và mỗi đêm tiếng đại bác từ đồn Cộng Hòa đều vang rền trên khắp ruộng đồng núi non và ở bìa làng. Khi bộ đội miền Bắc áp đảo về quân số họ từ từ xâm chiếm làng mạc và quân đội Quốc Gia có vẽ yếu thế. Nên về đêm những cuộc đi kích của đại đội ông Thắng dạt dần ra bờ sông và tránh né những thôn xóm nằm cận chân núi.
Và cũng trong thời gian này người ta thỉnh thoảng thấy những đứa bé ra đồng thả diều vui chơi. Những con diều có hôm có đuôi, có hôm trục lúc và mang nhiều màu sắc khác nhau.
Giao tranh hai bên vẫn tiếp tục xảy ra nhưng hầu hết là quân miền Bắc thắng thế do địa hình của chiến trường. Trong một trận đánh, đại đội ông Thắng cầu cứu việu trợ. Lính cứu viện di quân từ đồn Cộng Hòa đi xuyên qua núi Ngan. Tin cứu viện bị lộ và quân Bắc Việt phục kích hai bên lối đi phủ kín cây cối dưới bìa rừng. Khi đoàn quân cứu viện đi ngang qua, ho ập ra bắt sống trọn trung đội cứu viện mà không nổ một tiếng súng! Có hôm đầu bếp Mú của đại đội ông Thắng đang nấu ăn thì quân miền Bắc từ trong rừng ùa ra. Hỏa đầu quân Mú vừa đội nồi cơm trên đầu vừa chạy, chỉ năm phút sau là xuất hiện quân miền Bắc rượt theo sau!
Cuối cùng vào khoảng cuối mùa Xuân năm 1965 đại đội ông Thắng chỉ có mặt trong làng trước khi trời xế chiều. Ban đêm quân Bắc Việt hoành hành! Họ bắt đầu lục xét những gia đình giàu có trong làng thâu lúa gạo, ngũ cốc, tiền bạc gọi là đóng góp giúp “quân giải phóng”. Những ai bị gõ cửa đều phải đóng góp, và sang ngày hôm sau lại đi khai báo cho Quốc Gia biết là trong đêm đã “bị đóng góp” bao nhiêu. Việc khai báo này “quân giải phóng” không thể ngăn cấm được, vì nếu không cho khai báo thì coi như tiếp tế cho Cọng Sản, sẽ bị liệt vào hàng theo địch! Quân giải phóng được điềm chỉ và họ vào bắc bớ khủng bố tinh thần những người dân cộng tác với Quốc Gia, thậm chị bị thủ tiêu một cách dã man! Họ lôi một người chỉ làm một công việc tầm thường là đi rao loa kêu gọi người dân đi mít-tinh mỗi lần xã ấp có thông tin về hoa màu hay phân bón muốn cho nông dân biết, và một người phó đại diện xã đã về hưu ra cây rơm sau nhà. Xong họ đọc bản án người rao tin là kẻ phản động công cuộc giải phóng, và đập bể đầu chết trước mặt ông phó đại diện về hưu! Ông phó đại diện là người ra tin tức, thế mà họ đập chết người rao loa vì tội rao tin của ông phó đại diện!
Trong thời gian quân Bắc Việt tung hoành và khủng bố người dân thì vào ban đêm đã xảy ra phong trào “đi ngủ”. “Đi ngủ” là cụm từ dùng cho những người đàn ông có dính dáng với chính quyền Quốc Gia hay người giàu có trong làng. Hai thành phần này đều bị xem là có tội với cộng cuộc “giải phóng”. Cho nên trước khi đêm về những người này rời nhà mình đi đến nhà người quen nào đó trong làng mà ngủ! Ban tối họ về tìm bắt, lục soát khắp nhà không thấy họ chỉ nói qua loa vài câu rồi đi. Có khi người “đi ngủ” nằm trốn trong căn nhà “nguy hiểm” mà lại thoát chết! Nhưng sợ lưng mật! Ngày đó ngoài tiếng đại bác ngày đêm câu xuống từ đồn Cộng Hòa còn có tiếng chó sủa là âm thanh làm người dân trong làng mất ngủ và sợ đến run người! Trong đêm vắng có tiếng chó sủa là có “quân giải phóng” vào làng.
Rồi có một hôm ông đại đội trưởng Thắng về quận Nghĩa Hành họp. Ông để lại quyền chỉ huy cho Chuẩn Úy Học. Trong đêm Chuẩn Úy Học dẫn quân lính đi kích ngoài bờ sông và trong đêm đó yêm như tờ, không có lấy một tiếng chó sủa. Mới vừa hừng sáng quân lính ông Thắng trở về nhà dân nghĩ. Họ dựng súng ống nằm ngủ khắp nơi trong nhà, trên vỉa hè, dưới gốc cây. Họ ngủ say như em bé thì tiếng súng nổi lên từ khu nhà thờ Thiên Chúa Giáo! Quân bộ đội miền Bắc ùa ra từ nhà thờ Thiên Chúa như ong vỡ tổ và bên cạnh nhà thờ là ba căn nhà lớn lính ông Thắng đang nằn ngủ! Tiếng súng xé tan bầu không khí bình minh nã vào ba căn nhà lớn. Những người lính Quốc Gia người mặc quần đùi, người không có áo chạy tán loạn tìm cây súng trong giấc ngủ! Có người quơ được cây súng ra bờ mương cạnh nhà nằm núp chống cự lại. Nhưng hỏa lực quân miền Bắc quá mạnh và xảy ra quá đột ngột, lính ông Thắng bỏ làng chạy ra cánh đồng, lối thoát duy nhất không có tiếng súng của “quân giải phóng.” Nhưng ác nghiệt thay! Những người lính Việt Nam Cộng Hòa khi chạy ra đến ruộng đều bị trúng một viên đạn đại liên phòng không bắn ngay vào giữa trán! Thì ra trước khi tấn công họ đã đào một cái hầm tròn trên đỉnh gò Đồn trước mặt làng, chừa một ụ đất chính giữa và đặt cây đại liên phòng không trên đó! Người xạ thủ có thể quay khẩu đại liên 360 độ và thấy hình bóng người chiến sĩ VNCH chạy trên cánh đồng nằm lọt trong màn lưới ổ nhắm! Họ tấn công từ hai mặt và chỉ chừa cho lính VNCH hai lối thoát là chạy ra đồng hoặc chạy trong làng về hướng đèo Quán Thơm.
Hầu hết lính ông Thắng chạy ra cánh đồng. Chỉ có bảy người chạy trong làng về hướng núi đèo Quán Thơm thì còn sống sót! Dưới chân đèo Quán Thơm bảy người lính VNCH chiến đấu và lật xác ông gia nuôi lên bên cạnh khẩu AK47. Trong cái gùi trên lưng ông già nuôi chứa đầy tài liệu mật của bộ đội miền Bắc, vài ba con diều với ý nghĩa của từng màu sắc, của con diều có đuôi hoặc cụt đuôi, và có cả ngày giờ ông Thắng rời đơn vị về quận họp! Chiều hôm đó người ta lượm những chiếc nón sắt bỏ vào lưới khiêng ra bờ sông Vệ đưa về quận. Những chiếc nón sắt nặng trĩu trên vai người khiêng! Ông đại đội trưởng Thắng trở về lấy con đò ông Đàn qua sông mà lòng bùi ngùi, thương tiếc và nỗi giận, giận vì đã quá nhân đạo với một ông già điên điên khùng khùng!
Xã Nghĩa Thành hoàn toàn thất thủ và người dân lần lượt rời bỏ ra đi. Chỉ còn lại ngôi làng trống trơn, một ít người theo Cọng Sản, đám du kích và những người lính viễn chinh miền Bắc. Và bầy chó trong làng họ giết sạch để ăn thịt!
___________________
Đồng Sa Băng. 11/2011
Sau tháng 11 năm 1963, vào những buổi trưa nhất là mùa Hè nóng cháy người ta thường thấy một “ông già” mặt đỏ, lưng đeo gùi, quần áo ngay thẳng đầu đội chiếc nón lá rách tả tơi đi ngang qua làng. Đặc biệt là ông không bao giờ đi trong làng mà chỉ đi giữa cánh đồng. Ông đi từ quận Mộ Đức lên thôn An Ba, đi xuyên qua xã Hành Thịnh (xưa là xã Nghĩa Thành) lên đèo Quán Thơm, rồi biến mất! Nhưng vài ba ngày sau người ta thấy ông đi lại đoạn đường trên! Nghĩa là cũng từ đồng bằng quận Mộ Đức đi về núi, nhưng không thấy ông đi từ núi xuống đồng!
Người trong làng gọi ông là “ông gìa nuôi.”
Gọi là ông “già” nhưng thực sự ông còn dáng vóc trẻ trung của một người vừa qua năm mươi. “Ông già nuôi” không nói, không tiếp xúc với ai, và lúc nào mặt ông cũng đỏ như màu bả trầu vừa phẹt ra từ miệng của một bà già. Đã thế ông còn gay gắt và chống đối kịch liệt khi có người muốn tiếp cận ông.
Người ta muốn biết ông đựng ngữ gì trong cái gùi trên lưng.
Nhưng mỗi lần có ai đến gần, ông lại phùng mang chống cự quyết bảo vệ cái gùi trên lưng, nên riết rồi ai ai cũng để mặc ông đi qua làng.
Nhưng đám con nít thì khác. Chúng cố tìm “ông già nuôi” mang những gì trong cái gùi!
Hôm nào ông già nuôi đi ngang qua làng là đám con nít lại báo tin cho nhau rồi bu theo. Chúng chọc ghẹo phá phách và xem ông già nuôi như một quái vật! Chúng tò mò muốn biết ông già nuôi ăn cái gì, nhà ở đâu, vợ con đâu, sao chỉ thấy một mình đi gữa trưa nắng chang chang như người điên, ông có tên không, tên ông gọi là gì? Bao nhiêu thắc mắc và tra tấn nhưng ông già nuôi vẫn trơ trơ không nói đến một lời, mà ngược lại ông nhìn đám con nít với cặp mắt đỏ ngầu như mắt trâu điên, và ông như sẳn sàng xé thịt những đứa nào dám mạo hiểm đến gần. Đám con nít mất đi kiên nhẩn và trở thành bạo động. Chúng chửi bới, chúng chọi đất, reo hò rượt đuổi ông già nuôi. Nhưng rồi những ngày hôm sau đám con nít lại mong có ông già nuôi đi ngang qua làng, với chúng ông già nuôi là một cái gì đó để chọc ghẹo vui chơi, nên thấy vắng lại buồn!
Không ai biết “ông già nuôi” là ai, từ đâu đến. Nhưng có điều là tại sao ông lại xuất hiện giữa thời buổi nầy, thời buổi lọan ly! Phải chăng ông là người điên trong thời loạn!
Thực dân Pháp tháo chạy sau một trăm năm đô hộ, đất nước hòa bình nhưng bị chia đôi ở vĩ tuyến 17. Nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thiết lập ở miền Nam Việt Nam năm 1955, nhưng nó đã bị bức tử vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Từ đó những ngày tháng thanh bình dần dần biến mất và chiến tranh bắt đầu sinh sôi nảy nở.
Và “chiến trường” là xã Hành Thịnh, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thời điểm: năm 1964, 1965. Địa thế chiến trường: Bắc giáp sông, Tây và Nam giáp núi, Đông làng mạc kéo dài và tiếp nối đến Quốc Lộ 1.
Những ngày đầu cuộc chiến giao tranh thường xảy ra lẻ tẻ giữa một trung đội Dân Vệ và du kích quân. Người dân bắt đầu nghe lại tiếng súng cắt bùm và tạch tạch. Có hôm ông Ðại Diện xã Trần Cầu dẫn một tiểu đội Dân Vệ ban đêm vô núi tìm tung tích và truy nã kẻ địch. Nhưng càng về sau lính ông Ðại Diện xã chỉ cần ra đến giữa đồng là bị bên kia phục kích sẳn dưới đám đất cày. Họ chộ nhau bằng những cú chọi đất giữa đêm đen, vậy là bên này chùn bước nằm nghe ngóng! Rồi họ cắt phá bờ rào vi chun vô làng. Lần đột nhập đầu tiên vào làng là những người du kích quân. Giữa đêm đen người du kích vào sân sau nhà ông Ðại Diện xã tìm kiếm thức ăn. Trong khi tẩu thoát người du kích bị bắn chết, khi trong tay còn mang con vịt vừa bị bẻ gãy cổ! Ðây là chiến công đầu tiên của trung đội Dân Vệ.
Sáng ngày hôm sau Dân Vệ mang xác người du kích bêu lên bờ rào vi rồi mời ông quận Trưởng quận Nghĩa Hành xuống xem chiến công. Lính quận mang theo cây đại liên 50 đặt bên cạnh bờ rào vi và bắn băng đạn dài cả thước rào rào vào núi. Tiếng cụi của tràng đại liên 50 xé tan bầu không khí dội về rừng mang theo tín hiệu báo cho quân du kích biết rằng, những viên đạn đồng này là hứa hẹn cho sự quấy nhiễu của họ! Và tối hôm đó họ xuống mang xác người du kích về rừng. Ðó là tổn thất nhân mạng đầu tiên trong làng này.
Bẳn đi một thời gian yên tịnh rồi một hôm trung đội Dân Vệ được tin bên kia tập trung quân số du kích trong rừng. Tối về trung đội Dân Vệ rút vào giữa làng nằm kích dưới khu đất trũng tại vườn nhà ông Ngoạt. Trong đêm tối bên kia tiến quân bò lên vườn nhà thờ Thiên Chúa Giáo, nơi đất cao hơn nằm cạnh vườn nhà ông Ngoạt. Khi bóng người nằm trong tầm nút rùi, những khẩu súng Carbin của Dân Vệ thi nhau khạc đạn. Ánh sáng lóe chớp trên đầu súng và những viên đạn lửa vạch màng đêm với âm thanh réo réc nổ banh những bia đạn nằm trên vườn nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Họ thất trận. Gần chục xác du kích đầu chít khăn đỏ, mặc quần đùi nằm co queo mình mẫy trắng như bông! Bên Dân Vệ vẫn bảo toàn lực lượng. Và cũng trong bóng đêm họ trở về mang xác đi.
Chiến trường bắt đầu hâm nóng lên. Bên kia trở lại với bộ đội chính quy, súng ống và quân số đông đảo, họ đẩy lui trung đội Dân Vệ trong một buổi sáng. Giao tranh xảy ra ngay trong khuôn viên cơ quan hội đồng xã, họ đánh bật và rượt đuổi Dân Vệ chạy về ngã Ðức Thạch, nơi có quân tiếp viện đang ứng chiến. Giữa tiếng súng của phe Cọng Sản trên nầy bắn xuống, và tiếng súng yểm trợ của Quốc Gia ở dưới bắn lên, một người lính Dân Vệ nằm ngay giữa hai làng đạn bỗng rơi mình xuống con mương ấp chiến lược. Người lính chính quy nghĩ mình đã bắn ngã tên lính Dân Vệ, tiến lại nhìn xuống mương xác nhận chiến công rồi quay đầu trở lại. Nhưng dưới mương người lính Dân vệ đội đám rong rêu nín thở hụp sâu dưới nước! Vậy mà thoát chết!
Ngày hôm sau quân Quốc Gia tái chiếm cơ quan hội đồng xã. Và ngay sau đó một đại đội địa phương quân, đại đội ông Nghiễm về đóng trong làng. Người dân hân hoang chào đón và tri ân những người chiến binh giữ gìn làng mạc. Những bài ca như Ði Quân Dịch, Tình Anh Lính Chiến được những cô thôn nữ trong làng ca vang, và những người nông dân hiện rõ niềm vui trên cánh đồng. Ngày đó dân làng quen gọi là đại đội ông Nghiễm vì Thiếu Úy Nghiễm là đại đội trưởng nhưng không có đại đội phó. Người trợ lý đắc lực của Thiếu Úy Nghiễm là Thượng Sĩ Thâm, một Thượng Sĩ già. Trung Sĩ Chi là hạ sĩ quan tình báo và Rú là tay xạ thủ đại liên khét tiếng. Rú người dân tộc Nùng, to con khỏe mạnh có thể ôm cây đại liên 50 trên tay riết cò cả bân đạn.
Những ngày kế tiếp người ta lại thấy ông già nuôi xuất hiện đi ngang qua làng. Đám con nít chọi đất vào người và chạy theo rượt đuổi ông già nuôi. Bất chợt ông vấp chân té ngã và chiếc gùi trên lưng sút ra lăn tròn trên mặt đường! Ông già nuôi vội vã chạy đến chụp chiếc gùi, nhưng đã trể! Một con heo con từ trong gùi chạy ra kêu en éc. Đám con nít lại reo mừng rượt đuổi con heo con. Nhưng không ai lanh chân bằng ông già nuôi và cuối cùng ông đã bắt lại con heo con, bỏ vô gùi cắm đầu chạy về chân núi đèo Quán Thơm. Từ đó đám con nít rêu rao rằng ông già nuôi đựng con heo con trong gùi và ăn sống thịt heo con nên mắt lúc nào cũng đỏ như trâu điên! Và không ai còn quan tâm đến ông già nuôi khùng khùng điên điên nữa!
Lính ông Nghiễm ban ngày đóng quân tại các nhà của dân trong làng, tối về đi kích ngoài ruộng đồng canh chừng du kích quân. Tết năm 1965 cả làng có một mùa Xuân an vui.
Lính địa phương quân chỉ đóng quân một thời gian ngắn tại làng mạc nào đó rồi sẽ di chuyển đến làng khác. Sau bốn tháng, giữa mùa Xuân năm 1965 đại đội ông Nghiễm rời xã Nghĩa Thành mang quân về bảo vệ quận lỵ Mộ Đức. Trong một lần đụng độ với cọng quân tại cầu Cây Bứa, đại đội ông Nghiễm tổn thất nặng, chỉ còn lại hơn nửa quân số và trong đó có Trung Sĩ Chi. Trong trận cầu Cây Bứa Rú xạ thủ đại liên 50 bị cọng quân bắt sống. Sau trận cầu Cây Bứa Trung Sĩ Chi được thăng cấp Chuẩn Úy. Rồi những trận kế tiếp Chuẩn Úy Chi giữ tròn tính mạng và lại được thăng cấp. Đến năm 1967 Trung Úy Chi vào Sài Gòn học khóa bổ túc đặc biệt để trở về lên lon Đại Úy. Cuối cùng Đại Úy Trần Đình Chi, người Bình Định, thăng cấp Thiếu Tá. Trong quân đội ngày ấy có hai cách để lên lon lẹ: một là có bằng Tú Tài và tốt nghiệp từ trường võ bị, hai là không tốt nghiệp từ trường võ bị nhưng đánh giặc giỏi. Thiếu Tá Trần Đình Chi là người thứ hai nói trên. Và tiếc thay, trong cuộc hành quân qua đèo Eo Gió, xe ‘ríp’ Thiếu Tá Chi bị trúng B40 tại đèo Đá Bàng núi Đình Cương, rớt xuống vực sâu sông Vệ và bỏ mình tại đó!
Đại đội ông Nghiễm đi thì đại đội ông Thắng đến. Thiếu Úy Thắng là đại đội trưởng và Chuẩn Úy Học đại đội phó. Mú là đầu bếp cho đại đội ông Thắng.
Quân chính quy Bắc Việt tràn xuống chiến trường miền Nam càng ngày càng nhiều. Khoảng đầu năm 1965 quân Bắc Việt dồn dập tấn công những làng cận sơn ở miền Trung. Tại xã Nghĩa Thành một đại đội chủ lực quân ve vảng trong chân nuí Giàng thâu thập tin tức từ du kích quân là những người nhảy núi ở địa phương. Sau khi nắm được tình hình, quân chủ lực chọc mũi dùi tại các thôn nằm giáp chân đèo Quán Thơm, họ đẩy lui đại đội ông Thắng và chiếm đóng xã Nghĩa Thành. Trong trận tấn công này tổn thất hai bên không đáng kể vì trước hỏa lực hùng mạnh và cả quân số của quân chủ lực Bắc Việt, đại đội ông Thắng rút lui để bảo tồn quân số. Bốn năm ngày sau đại đội ông Thắng được sự yểm trợ của đơn vị bạn, pháo từ đồn Cộng Hòa và trung đội thiết giáp. Cuộc hành quân tái chiếm xã Nghĩa Thành được mở ra từ hai mũi: Thứ nhất quân ông Thắng tiến lên từ đập Bến Thóc, và thứ nhì đoàn thiết vận xa từ An Chỉ Nghĩa Phước bơi qua sông Vệ. Với sự yểm trợ của đại bác 155 ly dội liên tiếp từ đồn Cộng Hòa, đoàn xe tăng ào ạc bơi qua sông tiến vào khúc giữa xã Nghĩa Thành. Với chiến lược chận đường rút của quân Bắc Việt do mũi dùi đoàn quân ông Thắng và đại đội yểm trợ đánh lên từ đập Bến Thóc. Giao tranh xảy ra kịch liệt. Đoàn xe tăng cày nát ruộng lúa tiêu diệt đoàn quân Bắc Việt trên đường rút vô núi qua cánh đồng trước làng. Trong khi cánh quân ông Thắng và đơn vị yểm trợ bám sát đẩy lùi đại đội chính quy Bắc Việt về chụm cho đoàn thiết vận xa. Tiếng súng AK47 và tiếng Thompson, Garand, đại liên trên mui thiết giáp xa nổ vang rền bầu trời xã Nghĩa Thành, khói xanh bốc lên thành từng cột. Cánh địa phương quân đụng độ một toán cọng quân trong đó có một tay xạ thủ AK47 thật lợi hại, anh ta hăng say chiến đấu hết mình bên đồng đội. Tiếng súng AK47 áp đảo làm rát chân và nhiều lần chận đứng bước tiến của lính địa phương quân.
Trong trận tái chiếm xã Nghĩa Thành đại đội ông Thắng và đơn vị yểm trợ hạ sát và bắt sống một số tù binh quân Bắc Việt, trong số tù binh đó có một người đã từng đứng trong hàng ngũ địa phương quân của Quốc Gia chiến đấu mãnh liệt chống lại quân miền Bắc, đó chính là xạ thủ AK47! Ðúng, anh ta chính là xạ thủ đại liên 50 Rú của đại đội ông Nghiễm bị cọng quân bắt sống trong trận cầu Cây Bứa!
Sau khi bị bắt xạ thủ Rú xin được tái gia nhập quân đội Quốc Gia để đánh lại quân Cọng Sản! Cấp chỉ huy tìm hiểu lai lịch, biết khả năng đánh giặc của Rú và đã chấp nhận cho Rú gia nhập lại địa phương quân. Và ngay lập tức anh ta ôm đại liên 50 chung vai sát cánh quay đầu 180 độ tấn công quân đội Bắc Việt không một chút nương tay! Nhưng trong một trận giao tranh khác Rú bị quân miền Bắc bắt sống và anh ta lại ôm AK47 quay đầu hăng say chống lại quân đội miền Nam! Cho đến một hôm xạ thủ AK47 Rú tham chiến trong trận đánh lớn tại chiến trường Đổ Xóa, quân miền Bắc và miền Nam bao vây lẫn nhau nhiều vòng. Phòng chỉ huy kêu gọi giải cứu và hoanh tạc cơ Skyraider ném bom tiêu diệt. Trong số tử trận của quân Bắc Việt có xạ thủ AK47 Rú!
Có lẽ trong suy tư của xạ thủ Rú chiến tranh này chắc chắn sẽ không bao giờ là “chiến tranh ý thức hệ”, có chăng chỉ là cuộc nội chiến do ngọai bang tác động cho anh em một nhà chém giết lẫn nhau, cho nên dù cầm súng bên đây hay bên kia có khác gì!? Nhưng đó có thể là tư duy của Rú vì Rú cũng chỉ là một dân tộc thiểu số và đã làm sai lạc lý tưởng chận đứng sự bành trướng Cọng Sản đỏ của quân dân miền Nam. Nhưng cái đáng nói là hệ lụy của cuộc chiến. Hệ lụy đó là Việt Nam đã rơi vào quỹ đạo của chế độ Cọng Sản. Chế độ này đã và đang đưa đất nước đến đâu thì chắc hẳn người Việt Nam hiểu rỏ hơn ai. Vấn đề là những người đã theo, ủng hộ, và cộng tác để đưa đất nước đến hiện trạng ngày nay cần suy nghĩ và tìm cho mình câu trả lời chính xác cho câu hỏi: Tại sao người lảnh đạo Bắc Việt ngày ấy lại tôn thờ chịu sai khiến và nhận viện trợ từ Trung Quốc để tiến chiếm miền Nam Việt Nam, trong khi toàn dân Việt Nam muôn đời xem Trung Quốc là nỗi đe dọa và là kẻ thù xâm lược truyền kiếp của dân tộc?!
Sau khi đẩy lui bộ đội Bắc Việt đại đội địa phương quân ông Thắng tiếp tục đóng quân ở xã Nghĩa Thành để bảo vệ người dân làm ăn. Nhưng cũng sau lần thất trận trên bộ đội miền Bắc gia tăng quân số. Dường như mỗi đêm đều có đụng độ, và mỗi đêm tiếng đại bác từ đồn Cộng Hòa đều vang rền trên khắp ruộng đồng núi non và ở bìa làng. Khi bộ đội miền Bắc áp đảo về quân số họ từ từ xâm chiếm làng mạc và quân đội Quốc Gia có vẽ yếu thế. Nên về đêm những cuộc đi kích của đại đội ông Thắng dạt dần ra bờ sông và tránh né những thôn xóm nằm cận chân núi.
Và cũng trong thời gian này người ta thỉnh thoảng thấy những đứa bé ra đồng thả diều vui chơi. Những con diều có hôm có đuôi, có hôm trục lúc và mang nhiều màu sắc khác nhau.
Giao tranh hai bên vẫn tiếp tục xảy ra nhưng hầu hết là quân miền Bắc thắng thế do địa hình của chiến trường. Trong một trận đánh, đại đội ông Thắng cầu cứu việu trợ. Lính cứu viện di quân từ đồn Cộng Hòa đi xuyên qua núi Ngan. Tin cứu viện bị lộ và quân Bắc Việt phục kích hai bên lối đi phủ kín cây cối dưới bìa rừng. Khi đoàn quân cứu viện đi ngang qua, ho ập ra bắt sống trọn trung đội cứu viện mà không nổ một tiếng súng! Có hôm đầu bếp Mú của đại đội ông Thắng đang nấu ăn thì quân miền Bắc từ trong rừng ùa ra. Hỏa đầu quân Mú vừa đội nồi cơm trên đầu vừa chạy, chỉ năm phút sau là xuất hiện quân miền Bắc rượt theo sau!
Cuối cùng vào khoảng cuối mùa Xuân năm 1965 đại đội ông Thắng chỉ có mặt trong làng trước khi trời xế chiều. Ban đêm quân Bắc Việt hoành hành! Họ bắt đầu lục xét những gia đình giàu có trong làng thâu lúa gạo, ngũ cốc, tiền bạc gọi là đóng góp giúp “quân giải phóng”. Những ai bị gõ cửa đều phải đóng góp, và sang ngày hôm sau lại đi khai báo cho Quốc Gia biết là trong đêm đã “bị đóng góp” bao nhiêu. Việc khai báo này “quân giải phóng” không thể ngăn cấm được, vì nếu không cho khai báo thì coi như tiếp tế cho Cọng Sản, sẽ bị liệt vào hàng theo địch! Quân giải phóng được điềm chỉ và họ vào bắc bớ khủng bố tinh thần những người dân cộng tác với Quốc Gia, thậm chị bị thủ tiêu một cách dã man! Họ lôi một người chỉ làm một công việc tầm thường là đi rao loa kêu gọi người dân đi mít-tinh mỗi lần xã ấp có thông tin về hoa màu hay phân bón muốn cho nông dân biết, và một người phó đại diện xã đã về hưu ra cây rơm sau nhà. Xong họ đọc bản án người rao tin là kẻ phản động công cuộc giải phóng, và đập bể đầu chết trước mặt ông phó đại diện về hưu! Ông phó đại diện là người ra tin tức, thế mà họ đập chết người rao loa vì tội rao tin của ông phó đại diện!
Trong thời gian quân Bắc Việt tung hoành và khủng bố người dân thì vào ban đêm đã xảy ra phong trào “đi ngủ”. “Đi ngủ” là cụm từ dùng cho những người đàn ông có dính dáng với chính quyền Quốc Gia hay người giàu có trong làng. Hai thành phần này đều bị xem là có tội với cộng cuộc “giải phóng”. Cho nên trước khi đêm về những người này rời nhà mình đi đến nhà người quen nào đó trong làng mà ngủ! Ban tối họ về tìm bắt, lục soát khắp nhà không thấy họ chỉ nói qua loa vài câu rồi đi. Có khi người “đi ngủ” nằm trốn trong căn nhà “nguy hiểm” mà lại thoát chết! Nhưng sợ lưng mật! Ngày đó ngoài tiếng đại bác ngày đêm câu xuống từ đồn Cộng Hòa còn có tiếng chó sủa là âm thanh làm người dân trong làng mất ngủ và sợ đến run người! Trong đêm vắng có tiếng chó sủa là có “quân giải phóng” vào làng.
Rồi có một hôm ông đại đội trưởng Thắng về quận Nghĩa Hành họp. Ông để lại quyền chỉ huy cho Chuẩn Úy Học. Trong đêm Chuẩn Úy Học dẫn quân lính đi kích ngoài bờ sông và trong đêm đó yêm như tờ, không có lấy một tiếng chó sủa. Mới vừa hừng sáng quân lính ông Thắng trở về nhà dân nghĩ. Họ dựng súng ống nằm ngủ khắp nơi trong nhà, trên vỉa hè, dưới gốc cây. Họ ngủ say như em bé thì tiếng súng nổi lên từ khu nhà thờ Thiên Chúa Giáo! Quân bộ đội miền Bắc ùa ra từ nhà thờ Thiên Chúa như ong vỡ tổ và bên cạnh nhà thờ là ba căn nhà lớn lính ông Thắng đang nằn ngủ! Tiếng súng xé tan bầu không khí bình minh nã vào ba căn nhà lớn. Những người lính Quốc Gia người mặc quần đùi, người không có áo chạy tán loạn tìm cây súng trong giấc ngủ! Có người quơ được cây súng ra bờ mương cạnh nhà nằm núp chống cự lại. Nhưng hỏa lực quân miền Bắc quá mạnh và xảy ra quá đột ngột, lính ông Thắng bỏ làng chạy ra cánh đồng, lối thoát duy nhất không có tiếng súng của “quân giải phóng.” Nhưng ác nghiệt thay! Những người lính Việt Nam Cộng Hòa khi chạy ra đến ruộng đều bị trúng một viên đạn đại liên phòng không bắn ngay vào giữa trán! Thì ra trước khi tấn công họ đã đào một cái hầm tròn trên đỉnh gò Đồn trước mặt làng, chừa một ụ đất chính giữa và đặt cây đại liên phòng không trên đó! Người xạ thủ có thể quay khẩu đại liên 360 độ và thấy hình bóng người chiến sĩ VNCH chạy trên cánh đồng nằm lọt trong màn lưới ổ nhắm! Họ tấn công từ hai mặt và chỉ chừa cho lính VNCH hai lối thoát là chạy ra đồng hoặc chạy trong làng về hướng đèo Quán Thơm.
Hầu hết lính ông Thắng chạy ra cánh đồng. Chỉ có bảy người chạy trong làng về hướng núi đèo Quán Thơm thì còn sống sót! Dưới chân đèo Quán Thơm bảy người lính VNCH chiến đấu và lật xác ông gia nuôi lên bên cạnh khẩu AK47. Trong cái gùi trên lưng ông già nuôi chứa đầy tài liệu mật của bộ đội miền Bắc, vài ba con diều với ý nghĩa của từng màu sắc, của con diều có đuôi hoặc cụt đuôi, và có cả ngày giờ ông Thắng rời đơn vị về quận họp! Chiều hôm đó người ta lượm những chiếc nón sắt bỏ vào lưới khiêng ra bờ sông Vệ đưa về quận. Những chiếc nón sắt nặng trĩu trên vai người khiêng! Ông đại đội trưởng Thắng trở về lấy con đò ông Đàn qua sông mà lòng bùi ngùi, thương tiếc và nỗi giận, giận vì đã quá nhân đạo với một ông già điên điên khùng khùng!
Xã Nghĩa Thành hoàn toàn thất thủ và người dân lần lượt rời bỏ ra đi. Chỉ còn lại ngôi làng trống trơn, một ít người theo Cọng Sản, đám du kích và những người lính viễn chinh miền Bắc. Và bầy chó trong làng họ giết sạch để ăn thịt!
___________________
Đồng Sa Băng. 11/2011
Hỏi YR
02 September 2011 - 11:25 PM
YR cho hỏi tại sao lâu nay không thấy mạng anh Phệ nữa vậy? Mấy người bạn đó đâu hết rồi? Thanks.
Bóng Người
19 August 2011 - 12:22 PM
Buổi chiều hôm đó đồn Cộng Hòa và núi Giàng nghỉ, không cân “canh nông” xuống làng, mọi người ngoi đầu chui ra miệng hầm nghe và hít thở không khí chiến tranh, cái không khí ngột nhạt xen lẫn mùi thuốc súng, mùi hôi và khét như mùi thịt nướng! Tiếng súng AK, tiếng Thompson thôi nổ. Người đàn ông chân còn dính bùn, loại bùn bám bên chân những gốc lúa, gốc rạ màu đen xám bám chặt vào da thịt của người nông dân; mặc quần đùi màu đen và chiếc áo nâu bạc phết, mái tóc hớt cua cụt hơn tóc nhà binh, mặt hình chữ điền và không hề dính một chút sợ hãi, bước chân ra khỏi miệng hầm quay đầu lại bảo:
“Ngồi yên trong đó.”
Hai bắp chân to như bắp chuối đè lên hai bàn chân trần truồng, người đàn ông bắt đầu rời khỏi miệng hầm. Những tiếng chân nhỏ dần, và càng lúc càng đi xa. Chỉ còn để lại bên trong cái hầm, chiều ngang chừng một mét rưởi, chiều dài chừng ba mét và sâu đủ để một người nhỏ con đi không đụng đầu, một màu đen và hơi đất như muốn ngột thở với những ánh mắt như mắt mèo trong bóng tối. Một hồi sau tiếng chân kêu thình thịch càng lúc càng lớn đi dần đi về miệng hầm, và dưới hầm người ta nghe:
“Cái ngữ chó đẻ, nói chỉ bắn đại bác một trăm lẽ năm ly không giật mà sao nhà cửa sụp hết, quân ác ôn.”
Mặt mũi người đàn ông đỏ như cóc tía, sau một hồi đi nghe ngóng và xem xét tình hình trở lại miệng hầm bảo:
“Đi lên được rồi.”
Chiến trường tạm ngưng. Xóm làng nằm im thở khói!
Bên nầy rút đi, bên kia trở lại mang xác đồng đội đem về chôn cất. Ngôi làng trông thê lương còn hơn bãi tha ma. Đó đây một vài căn nhà trúng bom đang bốc khói. Tiếng chân người và những con mắt tò mò liếc xa ra ngoài ngõ. Vài người vội vã chạy ra đồng quơ những gì còn sót lại chiều hôm qua khi tiếng đại bác 105 ly không giật châm ngòi ở đầu làng. Người ta gọi đại bác 105 ly không giật, vậy mà nó nổ chỗ nào nhà cửa sụp chỗ đó!
Hồi đó dường như đêm nào Thanh cũng nghe tiếng đại bác. Người ta nói “Đại bác ru đêm”! Riết như cơm bửa! Rồi chai luôn nên giấc ngủ vẫn cứ đi vào màng đêm âm u giữa tiếng đì đùng. Thanh trở nên lì và đùa giỡn với đại bác. Mỗi lần đại bác cân vào làng mà nó nghe tiếng hú dzéo dzéo là nó tỉnh bơ không chạy xuống hầm, mà còn đứng trơ người nhìn theo cái thứ không giật này làm sụp nhà ai! Nó đặt thành định luật là, hể nghe được tiếng hú thì khỏi sợ chết vì đại bác đã bay qua khỏi đầu nó xa rồi. Có nghĩa là đại bác bay qua trước rồi tiếng hú mới theo sau.
Chiến tranh thì càng ngày càng lớn và sự chết chóc cũng tăng theo tỷ lệ thuận. Đến một lúc cha mẹ nó phải lựa chọn: Một là ở lại, hai là bỏ đi. Nhưng ở lại đồng nghĩa với chấp nhận theo “địch” và dùng đầu đội bom. Nhưng đi cũng không dễ vì “chính quyền” nào vừa chiếm được đất mà muốn mất dân đâu! Nên vất vã lắm cả nhà nó mới trốn bỏ được nơi chôn nhau cắt rún. Và không lâu sau đó, xóm làng trở nên vắng vẽ một cách lạ thường!
Thanh ngày đó vừa lên mười bảy. Ngày chạy giặc nó có nhiệm vụ quan trọng là phải mang con Trix đi cho bằng được.
Nó dẫn con Trix lội bộ gần một ngày đường mới đến trại định cư. Ở đó được hai tháng thì cha nó đem bán con Trix, gom góp được đồng nào rồi mang cả gia đình vào Nam cho an toàn. Ngày cha nó đem bán con Trix Thanh buồn dịu vợi, cả một phần tuổi thơ của nó dính liền với con Trix. Nó không chỉ là một con bò lai giống, to, khỏe mạnh phi thường mà còn là một người bạn, người bạn đã đem lại cho Thanh những giây phút hào hùng sau những lần chiến thắng “đổi lộn” nãy lửa.
Quê hương bỏ lại sau lưng, bỏ ruộng đồng, vườn tược, bỏ lại tuổi thơ bên lũy tre làng, Thanh cùng gia đình di tản vô đô thành Sài Gòn nhộn nhịp.
Cha của Thanh là một ông phó Đại Diện, một ông phó Đại Diện đã mãn khóa, đã hết thời và cuộc sống đã trở lại với ruộng đồng, nương khoai, lúa thóc, nên, đi đâu làm gì cũng khồng bằng làm ruộng. Cái nghề đã bám chân qua nhiều đời.
Những ngày chân ướt chân ráo bước vào Sài thành đô hội, cha của Thanh được một người cùng quê giới thiệu cho một người nông dân nửa mùa. Nói rằng nửa mùa vì người nông dân này cũng chạy giặc từ một miền quê Nam bộ, có hôm đi làm thợ ở công sở có hôm đi gặt lúa thuê. Ông tên Tư Lùn, người rất chân chất hiền như cục đất, mang vợ con về đô thành Sài Gòn bám trụ, tìm sống qua ngày chờ lúc thanh bình trở về quê. Ông Tư Lùn mua được một nền nhà nhỏ nằm giữa ruộng. Ngày đó thật sự không biết nhà ông Tư thuộc thôn xóm nào, chỉ biết nhà nằm xa cheo leo một mình bên những đám ruộng gần kho 18 ở Tân Thuận (nay là khu chế xuất Tân Thuận bên cạnh cầu Phước Mỹ, quận 7.) Ngày đó muốn đến nhà ông Tư thì từ Tân Thuận Đông lấy Tỉnh Lộ 15 đi về hướng Nhà Bè, qua khỏi khu phế thải vật liệu (hầu hết là gỗ vụn và đinh do “sở Mỹ” phế thải sau khi gở hàng hóa) xong quẹo trái vào con đường đất. Đi thêm hơn một cây số giữa ruộng đồng, bờ mương ngòng ngoèo rồi sẽ thấy một căn nhà lá, vách và mái đều làm bằng lá dừa nước nằm bên cạnh con mương. Đó là nhà cuả gia đình ông Tư. Không ai có thể lạc vì ngoài căn nhà lá trên cánh đồng đó, xa lắm người ta mới thấy mái nhà nào khác! Ông Tư có người vợ với hai người con, đứa con trai nhỏ cở mười tuổi và một người con gái, Liên, vừa tròn mười sáu.
Thế rồi Thanh theo ông phó Đại Diện đi gặt lúa thuê trên cánh đồng bên cạnh nhà ông Tư.
Ngày đầu tiên Thanh cùng cha, ông dượng, và vài người anh con ông dượng theo ông Tư ra ruộng gặt lúa. Cái ăn cái mặc thì hiện rỏ trên khuôn mặt lo âu của ông phó Đại Diện và ông dượng, nhưng Thanh và Hùng chỉ thấy vui vì được trở lại ruộng đồng, cá mú nên hớn hỡ thấy rõ. Cánh đồng rộng với những thửa ruộng lúa chín vàng hoe. Từ sáng sớm người ta đã khiêng những cái bồ đập lúa đặt trên bờ ruộng, rồi người gặt, người đập tấp nập như ngày mùa. Người ta làm quần quật suốt buổi. Đến trưa, anh Hùng và Thanh cùng ngồi ăn cơm với mọi người giữa cánh đồng. Khi mặt trời ngã bóng khoảng bốn năm giờ chiều cánh đồng ngưng đập lúa. Người ta lo gánh lúa về nhà, Thanh phụ giúp dọn dẹp, xong trở lại căn nhà ông Tư trước khi trở về Tân Thuận Ðông.
Nhà ông Tư nhỏ, không có gì đặc biệt ngoại trừ mang cái tính chất của một căn nhà ở miền sông nước Nam bộ. Chung quanh nhà có trồng năm ba cây Ðước để có bóng mát, và ít cây ăn trái như mít, đu đủ, vv… Và đặc biệt là con mương nước chảy róc rách bên cạnh nhà. Sân sau nhà đụng bờ mương và tại gốc cây mít ông Tư đặt một cái lu chứa nước có cái gáo dừa móc trên miệng lu.
Buổi chiều vừa xuống, Thanh nhìn ra ngõ thấy bà Tư và cô con gái, Liên, từ đâu trở về nhà. Liên đặt cái thúng bên vỉa hè rồi vòng ra sân sau múc gáo nước tạt lên đôi bàn chân, gội đi những vết bùn. Nàng đổ vào thau ni-lông năm ba gáo nước mương rồi cuối xuống phát lên mặt những cụm nước, bọt nước trắng xóa xác lên da mặt Liên rồi bay thẳng ra phía sau. Liên đưa tay hất những sợi tóc lên, cuối xuống xắn hai ống quần cao khỏi đầu gối để lộ làn da trắng nõn, nàng xối lên vài gáo nước rồi bước vô nhà.
“Ủa! …chào … chào ...”
Nàng lúng túng khi bắt gặp cặp mắt Thanh đang nhìn.
“Chào … em.” Thanh đáp lại.
“Thôi anh Tư, tụi tui đi về nhe.” Tiếng của cha Thanh.
Thanh theo cha, ông dượng và anh Hùng bước ra khỏi nhà.
“Tía, họ là ai vậy tía?” Liên hỏi ba nàng.
“Mấy người bạn theo cha đi gặt lúa đó con.”
“Vậy hả tía. Họ có …?”
Liên bỏ lững câu hỏi nửa chừng. Nàng nhìn ra ngõ thấy Thanh quay đầu nhìn vô, rồi bước đi!
(tiếp)
“Ngồi yên trong đó.”
Hai bắp chân to như bắp chuối đè lên hai bàn chân trần truồng, người đàn ông bắt đầu rời khỏi miệng hầm. Những tiếng chân nhỏ dần, và càng lúc càng đi xa. Chỉ còn để lại bên trong cái hầm, chiều ngang chừng một mét rưởi, chiều dài chừng ba mét và sâu đủ để một người nhỏ con đi không đụng đầu, một màu đen và hơi đất như muốn ngột thở với những ánh mắt như mắt mèo trong bóng tối. Một hồi sau tiếng chân kêu thình thịch càng lúc càng lớn đi dần đi về miệng hầm, và dưới hầm người ta nghe:
“Cái ngữ chó đẻ, nói chỉ bắn đại bác một trăm lẽ năm ly không giật mà sao nhà cửa sụp hết, quân ác ôn.”
Mặt mũi người đàn ông đỏ như cóc tía, sau một hồi đi nghe ngóng và xem xét tình hình trở lại miệng hầm bảo:
“Đi lên được rồi.”
Chiến trường tạm ngưng. Xóm làng nằm im thở khói!
Bên nầy rút đi, bên kia trở lại mang xác đồng đội đem về chôn cất. Ngôi làng trông thê lương còn hơn bãi tha ma. Đó đây một vài căn nhà trúng bom đang bốc khói. Tiếng chân người và những con mắt tò mò liếc xa ra ngoài ngõ. Vài người vội vã chạy ra đồng quơ những gì còn sót lại chiều hôm qua khi tiếng đại bác 105 ly không giật châm ngòi ở đầu làng. Người ta gọi đại bác 105 ly không giật, vậy mà nó nổ chỗ nào nhà cửa sụp chỗ đó!
Hồi đó dường như đêm nào Thanh cũng nghe tiếng đại bác. Người ta nói “Đại bác ru đêm”! Riết như cơm bửa! Rồi chai luôn nên giấc ngủ vẫn cứ đi vào màng đêm âm u giữa tiếng đì đùng. Thanh trở nên lì và đùa giỡn với đại bác. Mỗi lần đại bác cân vào làng mà nó nghe tiếng hú dzéo dzéo là nó tỉnh bơ không chạy xuống hầm, mà còn đứng trơ người nhìn theo cái thứ không giật này làm sụp nhà ai! Nó đặt thành định luật là, hể nghe được tiếng hú thì khỏi sợ chết vì đại bác đã bay qua khỏi đầu nó xa rồi. Có nghĩa là đại bác bay qua trước rồi tiếng hú mới theo sau.
Chiến tranh thì càng ngày càng lớn và sự chết chóc cũng tăng theo tỷ lệ thuận. Đến một lúc cha mẹ nó phải lựa chọn: Một là ở lại, hai là bỏ đi. Nhưng ở lại đồng nghĩa với chấp nhận theo “địch” và dùng đầu đội bom. Nhưng đi cũng không dễ vì “chính quyền” nào vừa chiếm được đất mà muốn mất dân đâu! Nên vất vã lắm cả nhà nó mới trốn bỏ được nơi chôn nhau cắt rún. Và không lâu sau đó, xóm làng trở nên vắng vẽ một cách lạ thường!
Thanh ngày đó vừa lên mười bảy. Ngày chạy giặc nó có nhiệm vụ quan trọng là phải mang con Trix đi cho bằng được.
Nó dẫn con Trix lội bộ gần một ngày đường mới đến trại định cư. Ở đó được hai tháng thì cha nó đem bán con Trix, gom góp được đồng nào rồi mang cả gia đình vào Nam cho an toàn. Ngày cha nó đem bán con Trix Thanh buồn dịu vợi, cả một phần tuổi thơ của nó dính liền với con Trix. Nó không chỉ là một con bò lai giống, to, khỏe mạnh phi thường mà còn là một người bạn, người bạn đã đem lại cho Thanh những giây phút hào hùng sau những lần chiến thắng “đổi lộn” nãy lửa.
Quê hương bỏ lại sau lưng, bỏ ruộng đồng, vườn tược, bỏ lại tuổi thơ bên lũy tre làng, Thanh cùng gia đình di tản vô đô thành Sài Gòn nhộn nhịp.
Cha của Thanh là một ông phó Đại Diện, một ông phó Đại Diện đã mãn khóa, đã hết thời và cuộc sống đã trở lại với ruộng đồng, nương khoai, lúa thóc, nên, đi đâu làm gì cũng khồng bằng làm ruộng. Cái nghề đã bám chân qua nhiều đời.
Những ngày chân ướt chân ráo bước vào Sài thành đô hội, cha của Thanh được một người cùng quê giới thiệu cho một người nông dân nửa mùa. Nói rằng nửa mùa vì người nông dân này cũng chạy giặc từ một miền quê Nam bộ, có hôm đi làm thợ ở công sở có hôm đi gặt lúa thuê. Ông tên Tư Lùn, người rất chân chất hiền như cục đất, mang vợ con về đô thành Sài Gòn bám trụ, tìm sống qua ngày chờ lúc thanh bình trở về quê. Ông Tư Lùn mua được một nền nhà nhỏ nằm giữa ruộng. Ngày đó thật sự không biết nhà ông Tư thuộc thôn xóm nào, chỉ biết nhà nằm xa cheo leo một mình bên những đám ruộng gần kho 18 ở Tân Thuận (nay là khu chế xuất Tân Thuận bên cạnh cầu Phước Mỹ, quận 7.) Ngày đó muốn đến nhà ông Tư thì từ Tân Thuận Đông lấy Tỉnh Lộ 15 đi về hướng Nhà Bè, qua khỏi khu phế thải vật liệu (hầu hết là gỗ vụn và đinh do “sở Mỹ” phế thải sau khi gở hàng hóa) xong quẹo trái vào con đường đất. Đi thêm hơn một cây số giữa ruộng đồng, bờ mương ngòng ngoèo rồi sẽ thấy một căn nhà lá, vách và mái đều làm bằng lá dừa nước nằm bên cạnh con mương. Đó là nhà cuả gia đình ông Tư. Không ai có thể lạc vì ngoài căn nhà lá trên cánh đồng đó, xa lắm người ta mới thấy mái nhà nào khác! Ông Tư có người vợ với hai người con, đứa con trai nhỏ cở mười tuổi và một người con gái, Liên, vừa tròn mười sáu.
Thế rồi Thanh theo ông phó Đại Diện đi gặt lúa thuê trên cánh đồng bên cạnh nhà ông Tư.
Ngày đầu tiên Thanh cùng cha, ông dượng, và vài người anh con ông dượng theo ông Tư ra ruộng gặt lúa. Cái ăn cái mặc thì hiện rỏ trên khuôn mặt lo âu của ông phó Đại Diện và ông dượng, nhưng Thanh và Hùng chỉ thấy vui vì được trở lại ruộng đồng, cá mú nên hớn hỡ thấy rõ. Cánh đồng rộng với những thửa ruộng lúa chín vàng hoe. Từ sáng sớm người ta đã khiêng những cái bồ đập lúa đặt trên bờ ruộng, rồi người gặt, người đập tấp nập như ngày mùa. Người ta làm quần quật suốt buổi. Đến trưa, anh Hùng và Thanh cùng ngồi ăn cơm với mọi người giữa cánh đồng. Khi mặt trời ngã bóng khoảng bốn năm giờ chiều cánh đồng ngưng đập lúa. Người ta lo gánh lúa về nhà, Thanh phụ giúp dọn dẹp, xong trở lại căn nhà ông Tư trước khi trở về Tân Thuận Ðông.
Nhà ông Tư nhỏ, không có gì đặc biệt ngoại trừ mang cái tính chất của một căn nhà ở miền sông nước Nam bộ. Chung quanh nhà có trồng năm ba cây Ðước để có bóng mát, và ít cây ăn trái như mít, đu đủ, vv… Và đặc biệt là con mương nước chảy róc rách bên cạnh nhà. Sân sau nhà đụng bờ mương và tại gốc cây mít ông Tư đặt một cái lu chứa nước có cái gáo dừa móc trên miệng lu.
Buổi chiều vừa xuống, Thanh nhìn ra ngõ thấy bà Tư và cô con gái, Liên, từ đâu trở về nhà. Liên đặt cái thúng bên vỉa hè rồi vòng ra sân sau múc gáo nước tạt lên đôi bàn chân, gội đi những vết bùn. Nàng đổ vào thau ni-lông năm ba gáo nước mương rồi cuối xuống phát lên mặt những cụm nước, bọt nước trắng xóa xác lên da mặt Liên rồi bay thẳng ra phía sau. Liên đưa tay hất những sợi tóc lên, cuối xuống xắn hai ống quần cao khỏi đầu gối để lộ làn da trắng nõn, nàng xối lên vài gáo nước rồi bước vô nhà.
“Ủa! …chào … chào ...”
Nàng lúng túng khi bắt gặp cặp mắt Thanh đang nhìn.
“Chào … em.” Thanh đáp lại.
“Thôi anh Tư, tụi tui đi về nhe.” Tiếng của cha Thanh.
Thanh theo cha, ông dượng và anh Hùng bước ra khỏi nhà.
“Tía, họ là ai vậy tía?” Liên hỏi ba nàng.
“Mấy người bạn theo cha đi gặt lúa đó con.”
“Vậy hả tía. Họ có …?”
Liên bỏ lững câu hỏi nửa chừng. Nàng nhìn ra ngõ thấy Thanh quay đầu nhìn vô, rồi bước đi!
(tiếp)
Liên kết website
ZUZU.VN | FIC Group | Bao Gia Bao Food Service Products | Đất Dĩ An | GAMSology | Greenland Medical Center |- Nhà Việt Nam - Tâm Giao
- → Viewing Profile: DongSaBang



Find content
