Jump to content


Toggle this category Top Forums

Forum Topics Replies
Thơ sáng tác 584 4075
Những tác phẩm sưu tầm 433 387
Văn sáng tác 250 1763
Thi thơ đối đáp 220 915
System & Security 165 0

Toggle this category Top Posters

Username Posts
Yellow-Rose 2985
admin 2882
NangThuyTinh 1688
TửQuỳnh 1318
Cội Thông Già 659

Toggle this category Đường Xưa Lối Cũ

Posted By:  DongSaBang @ 01 February 2012 - 02:41 AM
Đường Xưa Lối Cũ


Lâu rồi tôi cứ hứa với lòng là sẽ có một ngày tôi quên đi những nhọc nhằn để về thăm quê hương một chuyến thật lâu, như ba bốn tháng gì đó. Tôi ước mơ sẽ được đặt chân trên khắp nẽo đường quê hương từ Nam ra Bắc, để được nhìn và thấy quê hương trong hơi thở và nhịp sống. Nhưng cũng bao lâu rồi mà tôi vẫn chưa thực hiện được giấc mơ đó, nên mãi ngậm ngùi mỗi lần nghe nhỏ Mỹ Tâm hát bài Làng Tôi. Khi tiếng nhạc và lời ca đã chìm sâu, tôi vẫn còn mơ và lời ca:

Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn … người bốn phương”

vẫn còn ngân vang trong đầu tôi. Năm 1992 tôi nghe và xem chương trình ca nhạc “Mùa Xuân Nào Ta Về” của Paris By Night vừa phát hành. Qua lời thuyết minh của nhà văn Duyên Anh, giọng đọc trầm buồn của người thiếu nữ như giăng sâu vào tim gan với những bản tình ca, hình ảnh những chiếc cầu, ruộng đồng, sông nước, và những mái lá nghèo nàn nằm bên hàng dừa nước của làng quê Việt Nam. Đã làm tôi rơi lệ! Duyên Anh đã trải lòng nỗi nhớ và trăng trở với quê hương thật thống thiết qua lời nói, nếu tôi không lầm thì là: “làng tôi, làng anh, làng Việt Nam chúng ta nó đang xoay chiều và càng lúc càng nhanh lên rồi đó.” Như ông đã viết để hỏi: “Mùa Xuân Nào Ta Về?

Có lẽ tôi cũng nhớ nhà như Duyên Anh, nhưng tôi không chịu nổi sự đợi chờ khi thời gian càng ngày càng trôi qua nhanh. Và có một Mùa Xuân tôi đã về.

Ngày tôi rời xa quê cũ không rượu, không trà, không có đuôi mắt dài nhìn theo bước chân tôi đi, không lễ tiễn đưa, không hồi còi tàu, không bịn rịn, và tôi cũng không biết tôi sẽ đi về đâu! Vì ngày ấy tôi chỉ là đứa bé ham vui bắt chim bắt cá trên đồng Sa Băng, thì bom đạn đổ xuống quê tôi. Thế mà Mùa Xuân đó tôi về, tóc đã hoa râm!

Đường dài mỏi cánh chim bay mãi rồi cũng đến lúc máy bay đáp xuống thành phố Sài Gòn. Tôi vẫn thương và muôn đời chỉ gọi là thành phố Sài Gòn mặc dù nó đã bị đổi tên! Anh tôi bảo lấy máy bay bay ra Đà Nẵng rồi lấy xe quanh ngược vào Quảng Ngãi cho lẹ và khỏe. Nhưng tôi quyết định đi bằng xe đò, vì tôi muốn được nhìn quang cảnh bên đường. Một con đường dài từ Sài Gòn về Quảng Ngãi, tôi tha hồ nhìn ngắm và ghi lại hình ảnh, vì có bao giờ tôi lại có được dịp may như ngày hôm nay. Và để đổi lấy những giây phút ngắm nhìn hình ảnh quê hương mà tôi hằng mong ước là thân tôi rả rời. Vì con đường dài và xấu. Nhưng nếu có lần thứ hai tôi vẫn không ngần ngại chọn con đường rả rời thân thể nầy!

Rả rời, bầm dập rồi cũng đến, và tôi đang đứng trên con đường đất đi vào chợ Thi Phổ một buổi sáng cuối Xuân. Tôi theo anh vào chợ mua ít nhang đèn để thắp cho mộ Cha và Bà Nội. Từ đây tôi nói anh chở tôi đi lại con đường xưa. Trong đời người có biết bao “con đường xưa”, những con đường xưa thường mang nhiều kỷ niệm đẹp, nhưng cũng có “con đường xưa” chỉ ghi dấu sự buồn phiền. Và con đường xưa hôm nay tôi đi lại là con đường mà ngày đó tôi chạy trốn!

Ra khỏi chợ Thi Phổ anh đèo tôi sau chiếc xe gắn máy anh mang theo từ Sài Gòn. Xe chạy về hướng thị xã Quảng Ngãi một chặp thì đến ngã ba Quán Lát, anh quẹo trái để về Hành Thịnh. Con đường đất đỏ ngoằn ngoèo đưa hai anh em tôi về xã Đức Thạch. Hai bên đường lúa xanh phơi phới và bên bờ mương tôi thấy chiếc xe đạp nước cổ kính của ngày xưa nằm phơi mình bên bờ ruộng. Tôi mừng quá, nói anh dừng xe lại. Tôi bước đến chiếc xe đạp nước đang được phủ kín bởi một tấm ni-lông bạc màu, tôi loay hoay nhìn kỷ như tìm kiếm một bảo vật, nhưng với tôi nó thật sự là một bảo vật. Thấy tôi như một đứa bé đang mân mê món đồ chơi, người chủ chiếc xe từ trong nhà bước ra. Tôi hỏi ông có thể cho tôi gỡ bỏ lớp áo ni-lông cũ kỷ để tôi chụp vài tấm hình, ông đồng ý, và hình ảnh chiếc xe đạp nước ngày xưa lại được theo tôi đi tận phương trời!

Tại đây anh tôi quẹo trái về Núi Đồi để chúng tôi thắp nhang cho Cha và Bà Nội, xong anh quanh xe lại chạy theo “con đường xưa tôi đi.” Một hồi sau chúng tôi đến chợ Vam. Đến đây tôi nói anh ngừng xe lại, tự dưng lòng tôi chùn xuống!

Nơi đây hơn bốn mươi năm về trước, năm 1965, gia đình tôi lừa bầy trâu chạy giặc từ xã Nghĩa Thành (nay là Hành Thịnh), chiều về Cha tôi cột bầy trâu ngoài chợ Vam trong khi cả nhà tạm cư trong nhà bà xã Thủ ở Đức Thạch. Tối xuống đàn trâu tự bức đức dây rồi một mình dẫn nhau trở về nhà. Sáng hôm sau Cha tôi lại đem gia đình trở về với bầy trâu. Ngày còn nhỏ có đôi lần tôi theo Mẹ xuống chợ Vam, nhưng lâu quá tôi không còn nhớ nhiều về ngôi chợ này. Chỉ nhớ đó là một ngôi chợ lớn có nhiều cá biển ngon như cá mòi, cá ngừ, cá chuồn, cá thu, cá hố, cá rựa, vân vân…, có bán đá cục, cà rem, quần áo đẹp, và có những đôi giày sơn-đanh (sandal) mà tụi con nít chúng tôi ngày ấy mơ có được một đôi để khoe trong ba ngày Tết. Mẹ tôi lâu lâu mới đi chợ Vam một lần, và mỗi lần được theo Mẹ đi xuống chợ Vam tôi mừng lắm.

Nhưng bãi đất và hàng cột ngày xưa Cha tôi cột đàn trâu nay không còn thấy nữa.

Tôi đứng trầm ngâm nhìn lại cảnh xưa một hồi, rồi nói anh tôi chở đi.

Một lát sau chúng tôi đến khu gò mã. Gò mã nầy ngày xưa có nhiều hàng Dương Liễu. Từ lối đi giữa mồ mã, tẻ ra một con đường mòn nhỏ để vào nhà bà xã Thủ ở Đức Thạch. Tôi lại nói anh ngừng xe lại. Nhìn những bụi xấp xôi và hàng cây bời lời hai bên đường tôi nhớ đến một buổi chiều.

Một buổi chiều cuối mùa Xuân năm 1965, khi tiếng súng tạm ngưng tôi dẫn đứa em trai, vai mang túi chanh tươi và mấy cục đường cát trắng, từ xã Nghĩa Thành xuống thăm người chị theo chồng đi lính, đang đóng quân ở quận Mộ Đức. Lúc đó xã Nghĩa Thành đã nằm dưới quyền kiểm soát của “quân giải phóng”. Việc đầu tiên “quân giải phóng” làm khi họ chiếm ngôi làng là đốn những bụi tre già nằm hai bên con đường chính trong làng, cho nằm ngỗn ngang bít lối đi chính. Tôi dẫn đứa em len lỏi trong vườn tược nhà người ta, nhìn đâu đâu cũng thấy đổ nát. Xóm làng lúc nầy nhiều người đã bỏ đi nên rất vắng lạnh. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp vài người du kích mang AK đi trong vườn cũng đủ sợ đứng tim. Tôi đi trên đoạn đường ngắn từ thôn Ba Bình đến đập Bến Thóc mà dường như dài vô tận, tinh thần căng thẳng như đi trong vùng tử địa! Tôi rất sợ bị du kích bắt gặp, dường như ngày đó họ có một ma lực khiến cả những đứa bé như tôi cũng khiếp sợ, và dường như họ có toàn quyền sinh sát những thành phần thuộc gia đình khá dã mà họ cho là giai cấp tư bản. Khi đến sông Thoa, bên kia bờ là xã Đức Thạch quận Mộ Đức thuộc vùng kiểm soát của Quốc Gia.

Anh em tôi run và sợ, hồi hộp bước lên cầu đập Bến Thóc, cây cầu làm bằng gỗ bắc qua sông Thoa để rời khỏi vùng Cọng Sản kiểm soát. Qua bên kia sông Thoa không còn thấy hình bóng người du kích nữa. Nhưng con đường cũng không có ai đi, vắng, lạnh, và mang một màu tang thương như bãi chiến trường vừa trãi qua cơn binh biến! Đi thêm một khúc tôi đến Gò Rộng là một bãi cỏ dùng làm sân vận động, xung quanh có nhiều cây Dương Liễu. Những ngọn gió thổi xuyên qua rừng Dương tạo thành những âm thanh rì rào nghe đến não nùng!

Tại Gò Rộng nầy những ngày thanh bình tôi theo mấy người anh lớn từ xã Hành Thịnh xuống đây đá banh và đua xe đạp. Bình thường khi nghĩ tới đua xe là tôi liên tưởng đến những tay cua-rơ cắm đầu cắm cổ chạy như chạy chết. Nhưng trong cuộc đua này người thắng cuộc không phải là người chạy nhanh nhất, mà ngược lại! Anh nào chạy chậm nhất, và tất nhiên không được ngã xuống đất, cộng thêm vào đó các anh phải giữ thăng bằng và cuối người xuống đất lượm cho được chiếc mũ nĩ thì thắng cuộc. Ngày đó các anh lớn quê tôi bày những trò chơi thể thao ngược đời!

Hôm đó Gò Rộng bao trùm tử khí. Qua khỏi Gò Rộng là đến khu gò mã, lối vào nhà bà xã Thủ. Không khí nơi đây còn rùng rợn hơn, không bóng người đi, chỉ có tiếng gió rì rào của rừng Dương, và những mảnh giấy vụn gió thổi lăn lóc trên những nắm mồ. Anh em tôi bước đi trong sợ hãi. Bất chợt có tiếng la lên: “Đứng lại. Đi đâu đó.” Và liền sau tiếng la là vài ba người ôm súng phóng ra từ bựi rậm đè đầu hai anh em tôi xuống đất. Họ lục xét trong túi vải tôi mang theo rồi hỏi lại một lần nữa: “Mang ba thứ nầy đi đâu?” Tôi sợ tái mặt và run run nói: “Em mang đường và chanh xuống thăm người chị dưới quận Mộ Đức.” Họ xem xét một hồi không thấy có gì khả nghi nên thả hai anh em tôi đi. Thì ra các ông là những người lính Dân Vệ đang rình mấy ông du kích. Vậy là anh em tôi thoát khỏi cửa ải tử thần, tôi mừng vì đã thật sự đặt chân vào vùng Quốc Gia an toàn. Và hai anh em tôi đi như bay xuống ngôi làng nhỏ nằm sau Quốc Lộ 1, đối diện quận lỵ Mộ Đức.

Qua khỏi “con đường xưa tôi đi” tức từ chợ Vam đến gò mã nhà bà xã Thủ, qua Gò Rộng, đến đập Bến Thóc, thôn An Ba, Mỹ Hưng, Đồng Xuân là đến thôn Ba Bình. Tôi vui mừng như ngày mới lớn theo Mẹ đi chợ. Tôi đã về nhà! Về lại mái nhà xưa, nơi chôn nhau cắt rún!

Lâu lắm rồi tôi mới trở lại, tôi lức láo nhìn xung quanh cố tìm một vết tích quen thuộc của ngày xưa. Cổng ngọ môn vào làng bắt choàng qua đường Cái Quan nay đã mất. Dãy nhà “xóm đồng” ngày xưa vào ngày mùa lũ trẻ chúng tôi mang lúa “mót” đến đổi bánh chén bà Tài Phú giờ sao thấy xa lạ. Góc nhà anh Tạ Phi Long và bên kia là nhà ông Lộng, người thợ rèn duy nhất chuyên rèn rìu rựa cuốc xẻn cho dân làng, là con đường vào xóm nhà tôi, nay cũng không nhìn ra được! Cây cối, vết tích, nhà cửa và con đường ngày xưa nay đã khác, khác nhiều đến nỗi khó nhận ra. Tôi như người lạc đường.

Tôi nhìn vào núi, xác định Gò Đồn Gò Rú và núi Đuôi Chuột, những ngọn đồi nầy không dễ gì bị thay đổi, rồi tự kẻ trong đầu những con đường tưởng tượng nối ba đỉnh đồi trên thành khu tam giác. Tam giác này bao trùm một vùng, vùng đó là đồng Sa Băng, cánh đồng nằm ngay trước mặt làng tôi. Từ giữa cánh đồng tôi kẻ một con đường giáp chân núi Đình Cương về phía Đông, đó là con đường đi xuyên qua làng tôi, và chính xác hơn nó là con đường đi ngang qua khu nhà tôi! Từ đường Cái Quan tôi theo con đường tưởng tượng đi vào một phần ba làng, là tọa độ ngày xưa tôi u oa chào đời.

Nhưng nhà đâu?

Tôi bước chân tìm khắp nơi nhưng chẳng thấy. Lòng bồi hồi tôi nhìn người xa lạ trên mảnh đất xưa. Thấy tôi như người từ đâu mới đến, em bước lại. Tôi lượm cành cây khô, lấy tay khỏa lớp bụi đường trên mặt đất, em nhìn tôi ghi nỗi lòng lên lớp bụi đường.

Tôi theo con đường làng ra bờ sông Ba Bình. Cũng không còn như xưa. Con đường làng ngày nay nhỏ lại, bãi cát rộng lớn ngày xưa nay bị xoi mòn! Tôi đứng nhìn và hồi tưởng lại một thời nơi đây là bờ xe nước, chỗ kia là chòi xe mà nhiều đêm tôi theo Cha ra ngủ dưới đêm Hè nóng bức. Xa xa ngoài giòng sông là bờ độn xe nước chạy dài qua An Chỉ, và chỗ tôi đứng là con dốc lớn, trãi dài xuống bờ sông. Sau lưng từng là dàn máng nước chứa đầy nước sông chảy rốc rách mang vô ruộng đồng. Nơi đây những buổi trưa Hè đoàn người lớn bé và trâu bò thường ra vào: trẻ con đi tắm, người thôn nữ quay tơ trên cát, bà mẹ gìa cặm cụi cày đôi bàn chân trên những lát khoai lang khoai mì trên bãi cát nóng bỏng. Nhưng tất cả bây giờ chỉ còn lại là giòng nước ăn sâu vào bờ lởm chởm cỏ xanh. Nhìn qua bên kia bờ sông Vệ là con dốc xuống bến đò ông Đàn, ngày xưa sớm chiều chở người sang sông đi chợ chiều An Chỉ, nay đã thành cỗ tích.

Tôi quay vô làng, hầu hết những con đường ngày xưa nay đều nhỏ lại và lệch đi. Tôi nhớ ngày xưa nhà nào cũng có sân trước sân sau. Những ngày lụt lội lúa ngập chìm trong nước, người ta huy động bà con ra gặt tháo gặt để, nếu không lúa sẽ mọc thành mộng, coi như bỏ. Lúa bị ngập lụt người ta chỉ cắt ngọn lúa, bó lại thành từng bó bỏ lên ghe chở vào bờ, rồi dùng đòn xóc đâm hai đầu hai bó lúa gánh về trải đều trên sân. Sau đó dùng trâu (hay bò) cột thành chùm ba bốn con rồi một người theo sau đánh cho nó đi thành vòng tròn, dẫm lên lúa. Người đánh trâu (bò) phải cầm cái thúng để mỗi khi trâu (bò) ngõng đuôi lên là đặt cái thúng sau đít nó để hứng! Người ta dùng cây xỉa lật ngọn lúa nằm phía dưới lên cho trâu đạp, đến khi hột lúa rụng hết thì cũng dùng cây xỉa xốc rạ bỏ qua một bên và phần còn lại trên sân là hột lúa. Lúa lẫn lộn với rạ nên phải dê nhiều lần lúa mới sạch.

Cái sân ở nhà quê có nhiều công dụng như dùng để phơi lúa, phơi củ lang củ mì, đường cục, đậu, bắp, vân vân… Nói chung là dùng để phơi lúa thóc và ngũ cốc thu gặt từ ruộng đồng. Và cái sân cũng là nơi bà con giòng họ tụ tập vui chơi trong ngày giỗ, Tết nhứt. Nhưng đối với trẻ con thì cái sân và con đường làng là nơi bắn bi đánh đáo vui chơi. Và cũng nơi đây tình cảm và kỷ niệm về làng quê sẽ đi vào ký ức sau nầy. Nhưng ngày nay bước xuống cái hè là đụng đám củ mì củ lang. Có tuổi trẻ nào không gắn liền với cái sân nhà. Nhưng ngày nay mấy nhà còn có cái sân!?

Tôi trở lại thăm nhà thằng bạn cũ, ngày xưa có năm sáu thằng bạn nhưng bây giờ chỉ còn lại đây một thằng! Nó bảo

“Bao nhiêu năm rồi mầy mới trở lại, mầy muốn ăn cái gì tao sẽ đãi.”

Nhìn xung quanh cảnh nhà nó, tôi nói:

“Thôi, không cần cầu kỳ gì đâu. Mầy có món quê hương nào hông, mang ra đây nhậu chơi. Lâu rồi tao muốn ăn món đặc sản của quê mình lắm.”

“Vậy thì chuột đồng trộn mít non, mầy thấy sao?” Nó đề nghị.

Tôi liếm môi nuốt nước miếng cái ực, và trả lời nó một chữ ngắn gọn:

“Tuyệt.”

“Vậy thì tao đi hái vài trái mít non đem luột rồi xét mỏng ra, rang ít hột đậu phụng, hái ít rau răm và lá lốt là xong.”

“Còn chuột đâu, ai đi bắt?” Tôi hỏi.

“Mầy khỏi lo.” Nó quay vào nhà trong và gọi:

“Út đâu ra đây nhờ chút coi.”

“Dạ.” Cô gái miệng nhai nhỏm nhẻm đứng bên cửa nhà bếp nói ra.

“Em ra đồng bắt cho anh mấy con chuột mang về đây.”

Cô gái không trả lời, đi thẳng ra sau nhà lấy cây gậy, xong nhìn tôi cô nhoẻn miệng cười một cái, cô bước xuống hè và búng hai ngón tay ngoắt con chó chạy theo. Xéo một phút cô gái và con chó đã đi hút ngoài xa.

Tôi nói thằng bạn:

“Chỉ một mình em mầy mà là con gái mà bắt được chuột à?”

“Nghề của nó đó, mầy đừng coi thường con gái ngày nay.”

“Hay để tao đi bắt chuột với em mầy nhe, lâu rồi tao cũng muốn đi bắt chuột như ngày xưa cho vui.”

Không đợi thằng bạn trả lời, tồi liền phóng chân bước theo cô gái.

“Ông ra đây làm gì?”

“Phụ bắt chuột với em.”

“Làm sao ông bắt được chuột?”

Nhìn lại trên tay tôi không có vật gì để bắt chuột, mà chuột lại hay cắn mỗi khi bắt nó. Tôi chưng hửng đứng nhìn cô gái, hóa ra tôi chỉ theo làm bận chân cô.

“Chắc em bắt chuột giỏi lắm hả, em tên gì?”

“Mi.”

“Mi là mèo đó hả, mà mèo thì bắt chuột giỏi là đúng rồi.”

“Ông sai rồi, mèo lười bắt chuột lắm. Nó chỉ bắt khi nào thấy đói, còn không thì nó nằm yên một chỗ liếm lông thôi, nên ông không thấy em mang con mèo mà em mang con chó theo đó. Nhưng tên em là Mi như nốt thứ ba trên khung nhạc đó, anh kế em tên là Rê.”

Cô gái dẫn con chó ra mé ruộng sâu đồng Sa Băng. Cô bắt đầu đi tìm trên bờ ruộng, những nơi nào có hang là cô cuối xuống nhìn. Cô biết hang nào không có “dân cư” trong đó và cô cũng biết hang nào của rắn và hang nào của chuột. Cô giải thích:

“Cửa hang nào có dấu chấm lốm đốm là hang chuột, còn cửa hang nào trông bóng láng là hang rắn.”

“Có khi nào em đào lộn hang rắn không?”

“Ông sợ rắn lắm phải hông? Cũng có nhưng chỉ khi nào rắn vào bắt chuột trước mình và còn nằm lại trong đó.”

“Lạy Trời chuyện đó không xảy ra hôm nay.” Tôi nguyện cầu.

“Ông đừng lạy Trời mà ông nên lạy em đây nề.”

“Là sao?”

“Là chỉ có em mới cứu ông khỏi bị rắn cắn thôi. Mà sao ông về đây chỉ có một mình và khi nào ông lại ra đi?”

“Anh về đây với người anh.”

“Ý em hỏi không phải như vậy.”

“À, thì anh chỉ có một mình nên chỉ đi một mình.”

“Nói chứ em biết ông rồi. Ông về đây thấy buồn hơn vui phải hông?”

“Sao em biết?”

“Thì ông đề bài thơ nỗi lòng của ông còn trên bụi đường đó. Thôi để em bắt chuột mang về cho anh em đãi ông. Ông nhớ nếu gặp rắn thì đứng yên một chỗ đừng nhúc nhích. Ông muốn xua nó đi thì đưa mu bàn tay ra, ểnh ểnh mu lên rồi hất hất mấy ngón tay về phía trước. Còn ông muốn cầu cứu em thì cũng đưa mua bàn tay ra, ểnh ểnh mu cong lên rồi ngoắt ngoắt mấy ngón tay lại, đừng gây tiếng động rắn nó tấn công.”

“Ừ, anh sẽ nhớ.”

Cô quơ lấy một mớ cỏ, khô có ướt có, rồi nhúm lửa đốt trước miệng hang chuột. Cô lấy nón lá quạt khói cho bay vào hang, ở ngách hang khác cô cho con chó đứng chờ. Lửa càng lớn khói càng nhiều và khói chun vào mọi hang cùng ngõ hẻm nhà chuột. Chịu không nổi chuột chạy ra, một phần bị chó chụp, một phần cô gái dùng gậy phan. Cô phan rất giỏi, không con chuột nào thoát khỏi tay cô, chỉ một nhát thôi là con chuột nằm ngay đơ. Một con chuột chạy ra ở ngách khác, tôi liền nhảy đến chụp. Bị con chuột nó cắn một nhát, đau quá tôi buông ra. Cô gái nhảy đến đập nó một cái, nó chưa chết và đứng đó. Cô gái bảo tôi bắt nó bỏ vô đụt, tôi nhảy đến chụp, lại hụt, con chuột bò đi. Thấy con chuột bỏ đi, cô gái nhìn con chó rồi chỉ tay về phía tôi, quát lớn:

“Ngốc, ngốc, chạy lẹ đi bắt nó.”

Tôi bỏ cô gái ở lại một mình. Tôi đi về. Tôi giận lắm.

Hôm đó tôi nhậu chuột đồng trộn mít non với thằng bạn lâu ngày không gặp. Món nhậu ngon, rượu ngọt, tôi uống say mềm và muốn quên đi tất cả. Trong cơn say ngà ngà tôi hỏi thằng bạn:

“Em gái mi coi bộ ngông quá hả?”

“Ừ, nó ngông lắm. Mầy mà nghe nó đặt tên mấy con mèo của nó mầy cũng phải ớn, như Mai Thanh Tặc, Chu Như Tố, vân vân ... Tính nó ngông và cứng rắn lắm, nhưng hông phải lúc nào cũng vậy đâu. Những chuyện đụng đến con tim là nó mít ướt.”

“Mấy tên trên đây mang ý nghĩa gì?”

“Tao đâu có biết, nghe nó giải thích đại khái như heo mèo dê là ba con hợp nhau tức là tam hạp đó, mà con mèo nào suốt ngày ngồi vuốt bộ lông làm đẹp thì nó đặt tên là Chu Như Tố, Chu là họ nhà Trương Bát Giới đó.”

“Còn Mai Thanh Tặc là gì?”

“Ừ, thì nó nói Mai là mộc mà mèo hay mão thuộc hành mộc, còn Tắc là ba cái ngũ cốc nó đựng trong phòng nó. Con mèo nào chuyên môn leo trèo lên tủ lục lội phá phách đồ ăn của nó là nó đặt tên Mai Thanh Tặc, Tặc là giọng Huế của Tắc đó.”

“Tao nghe hay chứ có gì đâu mà ớn.”

“Ðó là chuyện của mèo, còn chó thì khác nhe mậy.”

Sáng hôm sau tôi đến từ giả thằng bạn. Khi bước ra khỏi ngõ, tôi quay đầu nhìn lại thì thấy Mi đưa tay lên vẫy tôi lại. Tôi trở lại.

“Em kêu tôi lại để nói gì tôi nữa?”

“Không có, em vẫy tay chào ông đi khỏe mạnh chứ có kêu ông lại đâu.”

“Sao tôi thấy em đưa mu bàn tay ra, ểnh ểnh mấy cái rồi ngoắt ngoắt lại.”

“Không có, cái đó là em kêu con Ngốc lại cho nó ăn. Ngốc là tên con chó em mang ra đồng Sa Băng bắt chuột cho ông hôm qua đó. Thôi, ông đi lẹ đi, không em khóc bây giờ.”

Tôi bước đi mà lòng ấm lại!


____________
Đồng Sa Băng

Comments: 3 :: View Comments

Toggle this category Ông Già Nuôi

Posted By:  DongSaBang @ 28 January 2012 - 01:34 PM
Ông Già Nuôi



Sau tháng 11 năm 1963, vào những buổi trưa nhất là mùa Hè nóng cháy người ta thường thấy một “ông già” mặt đỏ, lưng đeo gùi, quần áo ngay thẳng đầu đội chiếc nón lá rách tả tơi đi ngang qua làng. Đặc biệt là ông không bao giờ đi trong làng mà chỉ đi giữa cánh đồng. Ông đi từ quận Mộ Đức lên thôn An Ba, đi xuyên qua xã Hành Thịnh (xưa là xã Nghĩa Thành) lên đèo Quán Thơm, rồi biến mất! Nhưng vài ba ngày sau người ta thấy ông đi lại đoạn đường trên! Nghĩa là cũng từ đồng bằng quận Mộ Đức đi về núi, nhưng không thấy ông đi từ núi xuống đồng!

Người trong làng gọi ông là “ông gìa nuôi.”

Gọi là ông “già” nhưng thực sự ông còn dáng vóc trẻ trung của một người vừa qua năm mươi. “Ông già nuôi” không nói, không tiếp xúc với ai, và lúc nào mặt ông cũng đỏ như màu bả trầu vừa phẹt ra từ miệng của một bà già. Đã thế ông còn gay gắt và chống đối kịch liệt khi có người muốn tiếp cận ông.

Người ta muốn biết ông đựng ngữ gì trong cái gùi trên lưng.

Nhưng mỗi lần có ai đến gần, ông lại phùng mang chống cự quyết bảo vệ cái gùi trên lưng, nên riết rồi ai ai cũng để mặc ông đi qua làng.

Nhưng đám con nít thì khác. Chúng cố tìm “ông già nuôi” mang những gì trong cái gùi!

Hôm nào ông già nuôi đi ngang qua làng là đám con nít lại báo tin cho nhau rồi bu theo. Chúng chọc ghẹo phá phách và xem ông già nuôi như một quái vật! Chúng tò mò muốn biết ông già nuôi ăn cái gì, nhà ở đâu, vợ con đâu, sao chỉ thấy một mình đi gữa trưa nắng chang chang như người điên, ông có tên không, tên ông gọi là gì? Bao nhiêu thắc mắc và tra tấn nhưng ông già nuôi vẫn trơ trơ không nói đến một lời, mà ngược lại ông nhìn đám con nít với cặp mắt đỏ ngầu như mắt trâu điên, và ông như sẳn sàng xé thịt những đứa nào dám mạo hiểm đến gần. Đám con nít mất đi kiên nhẩn và trở thành bạo động. Chúng chửi bới, chúng chọi đất, reo hò rượt đuổi ông già nuôi. Nhưng rồi những ngày hôm sau đám con nít lại mong có ông già nuôi đi ngang qua làng, với chúng ông già nuôi là một cái gì đó để chọc ghẹo vui chơi, nên thấy vắng lại buồn!

Không ai biết “ông già nuôi” là ai, từ đâu đến. Nhưng có điều là tại sao ông lại xuất hiện giữa thời buổi nầy, thời buổi lọan ly! Phải chăng ông là người điên trong thời loạn!

Thực dân Pháp tháo chạy sau một trăm năm đô hộ, đất nước hòa bình nhưng bị chia đôi ở vĩ tuyến 17. Nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thiết lập ở miền Nam Việt Nam năm 1955, nhưng nó đã bị bức tử vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Từ đó những ngày tháng thanh bình dần dần biến mất và chiến tranh bắt đầu sinh sôi nảy nở.

Và “chiến trường” là xã Hành Thịnh, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thời điểm: năm 1964, 1965. Địa thế chiến trường: Bắc giáp sông, Tây và Nam giáp núi, Đông làng mạc kéo dài và tiếp nối đến Quốc Lộ 1.

Những ngày đầu cuộc chiến giao tranh thường xảy ra lẻ tẻ giữa một trung đội Dân Vệ và du kích quân. Người dân bắt đầu nghe lại tiếng súng cắt bùm và tạch tạch. Có hôm ông Ðại Diện xã Trần Cầu dẫn một tiểu đội Dân Vệ ban đêm vô núi tìm tung tích và truy nã kẻ địch. Nhưng càng về sau lính ông Ðại Diện xã chỉ cần ra đến giữa đồng là bị bên kia phục kích sẳn dưới đám đất cày. Họ chộ nhau bằng những cú chọi đất giữa đêm đen, vậy là bên này chùn bước nằm nghe ngóng! Rồi họ cắt phá bờ rào vi chun vô làng. Lần đột nhập đầu tiên vào làng là những người du kích quân. Giữa đêm đen người du kích vào sân sau nhà ông Ðại Diện xã tìm kiếm thức ăn. Trong khi tẩu thoát người du kích bị bắn chết, khi trong tay còn mang con vịt vừa bị bẻ gãy cổ! Ðây là chiến công đầu tiên của trung đội Dân Vệ.

Sáng ngày hôm sau Dân Vệ mang xác người du kích bêu lên bờ rào vi rồi mời ông quận Trưởng quận Nghĩa Hành xuống xem chiến công. Lính quận mang theo cây đại liên 50 đặt bên cạnh bờ rào vi và bắn băng đạn dài cả thước rào rào vào núi. Tiếng cụi của tràng đại liên 50 xé tan bầu không khí dội về rừng mang theo tín hiệu báo cho quân du kích biết rằng, những viên đạn đồng này là hứa hẹn cho sự quấy nhiễu của họ! Và tối hôm đó họ xuống mang xác người du kích về rừng. Ðó là tổn thất nhân mạng đầu tiên trong làng này.

Bẳn đi một thời gian yên tịnh rồi một hôm trung đội Dân Vệ được tin bên kia tập trung quân số du kích trong rừng. Tối về trung đội Dân Vệ rút vào giữa làng nằm kích dưới khu đất trũng tại vườn nhà ông Ngoạt. Trong đêm tối bên kia tiến quân bò lên vườn nhà thờ Thiên Chúa Giáo, nơi đất cao hơn nằm cạnh vườn nhà ông Ngoạt. Khi bóng người nằm trong tầm nút rùi, những khẩu súng Carbin của Dân Vệ thi nhau khạc đạn. Ánh sáng lóe chớp trên đầu súng và những viên đạn lửa vạch màng đêm với âm thanh réo réc nổ banh những bia đạn nằm trên vườn nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Họ thất trận. Gần chục xác du kích đầu chít khăn đỏ, mặc quần đùi nằm co queo mình mẫy trắng như bông! Bên Dân Vệ vẫn bảo toàn lực lượng. Và cũng trong bóng đêm họ trở về mang xác đi.

Chiến trường bắt đầu hâm nóng lên. Bên kia trở lại với bộ đội chính quy, súng ống và quân số đông đảo, họ đẩy lui trung đội Dân Vệ trong một buổi sáng. Giao tranh xảy ra ngay trong khuôn viên cơ quan hội đồng xã, họ đánh bật và rượt đuổi Dân Vệ chạy về ngã Ðức Thạch, nơi có quân tiếp viện đang ứng chiến. Giữa tiếng súng của phe Cọng Sản trên nầy bắn xuống, và tiếng súng yểm trợ của Quốc Gia ở dưới bắn lên, một người lính Dân Vệ nằm ngay giữa hai làng đạn bỗng rơi mình xuống con mương ấp chiến lược. Người lính chính quy nghĩ mình đã bắn ngã tên lính Dân Vệ, tiến lại nhìn xuống mương xác nhận chiến công rồi quay đầu trở lại. Nhưng dưới mương người lính Dân vệ đội đám rong rêu nín thở hụp sâu dưới nước! Vậy mà thoát chết!

Ngày hôm sau quân Quốc Gia tái chiếm cơ quan hội đồng xã. Và ngay sau đó một đại đội địa phương quân, đại đội ông Nghiễm về đóng trong làng. Người dân hân hoang chào đón và tri ân những người chiến binh giữ gìn làng mạc. Những bài ca như Ði Quân Dịch, Tình Anh Lính Chiến được những cô thôn nữ trong làng ca vang, và những người nông dân hiện rõ niềm vui trên cánh đồng. Ngày đó dân làng quen gọi là đại đội ông Nghiễm vì Thiếu Úy Nghiễm là đại đội trưởng nhưng không có đại đội phó. Người trợ lý đắc lực của Thiếu Úy Nghiễm là Thượng Sĩ Thâm, một Thượng Sĩ già. Trung Sĩ Chi là hạ sĩ quan tình báo và Rú là tay xạ thủ đại liên khét tiếng. Rú người dân tộc Nùng, to con khỏe mạnh có thể ôm cây đại liên 50 trên tay riết cò cả bân đạn.

Những ngày kế tiếp người ta lại thấy ông già nuôi xuất hiện đi ngang qua làng. Đám con nít chọi đất vào người và chạy theo rượt đuổi ông già nuôi. Bất chợt ông vấp chân té ngã và chiếc gùi trên lưng sút ra lăn tròn trên mặt đường! Ông già nuôi vội vã chạy đến chụp chiếc gùi, nhưng đã trể! Một con heo con từ trong gùi chạy ra kêu en éc. Đám con nít lại reo mừng rượt đuổi con heo con. Nhưng không ai lanh chân bằng ông già nuôi và cuối cùng ông đã bắt lại con heo con, bỏ vô gùi cắm đầu chạy về chân núi đèo Quán Thơm. Từ đó đám con nít rêu rao rằng ông già nuôi đựng con heo con trong gùi và ăn sống thịt heo con nên mắt lúc nào cũng đỏ như trâu điên! Và không ai còn quan tâm đến ông già nuôi khùng khùng điên điên nữa!

Lính ông Nghiễm ban ngày đóng quân tại các nhà của dân trong làng, tối về đi kích ngoài ruộng đồng canh chừng du kích quân. Tết năm 1965 cả làng có một mùa Xuân an vui.

Lính địa phương quân chỉ đóng quân một thời gian ngắn tại làng mạc nào đó rồi sẽ di chuyển đến làng khác. Sau bốn tháng, giữa mùa Xuân năm 1965 đại đội ông Nghiễm rời xã Nghĩa Thành mang quân về bảo vệ quận lỵ Mộ Đức. Trong một lần đụng độ với cọng quân tại cầu Cây Bứa, đại đội ông Nghiễm tổn thất nặng, chỉ còn lại hơn nửa quân số và trong đó có Trung Sĩ Chi. Trong trận cầu Cây Bứa Rú xạ thủ đại liên 50 bị cọng quân bắt sống. Sau trận cầu Cây Bứa Trung Sĩ Chi được thăng cấp Chuẩn Úy. Rồi những trận kế tiếp Chuẩn Úy Chi giữ tròn tính mạng và lại được thăng cấp. Đến năm 1967 Trung Úy Chi vào Sài Gòn học khóa bổ túc đặc biệt để trở về lên lon Đại Úy. Cuối cùng Đại Úy Trần Đình Chi, người Bình Định, thăng cấp Thiếu Tá. Trong quân đội ngày ấy có hai cách để lên lon lẹ: một là có bằng Tú Tài và tốt nghiệp từ trường võ bị, hai là không tốt nghiệp từ trường võ bị nhưng đánh giặc giỏi. Thiếu Tá Trần Đình Chi là người thứ hai nói trên. Và tiếc thay, trong cuộc hành quân qua đèo Eo Gió, xe ‘ríp’ Thiếu Tá Chi bị trúng B40 tại đèo Đá Bàng núi Đình Cương, rớt xuống vực sâu sông Vệ và bỏ mình tại đó!

Đại đội ông Nghiễm đi thì đại đội ông Thắng đến. Thiếu Úy Thắng là đại đội trưởng và Chuẩn Úy Học đại đội phó. Mú là đầu bếp cho đại đội ông Thắng.

Quân chính quy Bắc Việt tràn xuống chiến trường miền Nam càng ngày càng nhiều. Khoảng đầu năm 1965 quân Bắc Việt dồn dập tấn công những làng cận sơn ở miền Trung. Tại xã Nghĩa Thành một đại đội chủ lực quân ve vảng trong chân nuí Giàng thâu thập tin tức từ du kích quân là những người nhảy núi ở địa phương. Sau khi nắm được tình hình, quân chủ lực chọc mũi dùi tại các thôn nằm giáp chân đèo Quán Thơm, họ đẩy lui đại đội ông Thắng và chiếm đóng xã Nghĩa Thành. Trong trận tấn công này tổn thất hai bên không đáng kể vì trước hỏa lực hùng mạnh và cả quân số của quân chủ lực Bắc Việt, đại đội ông Thắng rút lui để bảo tồn quân số. Bốn năm ngày sau đại đội ông Thắng được sự yểm trợ của đơn vị bạn, pháo từ đồn Cộng Hòa và trung đội thiết giáp. Cuộc hành quân tái chiếm xã Nghĩa Thành được mở ra từ hai mũi: Thứ nhất quân ông Thắng tiến lên từ đập Bến Thóc, và thứ nhì đoàn thiết vận xa từ An Chỉ Nghĩa Phước bơi qua sông Vệ. Với sự yểm trợ của đại bác 155 ly dội liên tiếp từ đồn Cộng Hòa, đoàn xe tăng ào ạc bơi qua sông tiến vào khúc giữa xã Nghĩa Thành. Với chiến lược chận đường rút của quân Bắc Việt do mũi dùi đoàn quân ông Thắng và đại đội yểm trợ đánh lên từ đập Bến Thóc. Giao tranh xảy ra kịch liệt. Đoàn xe tăng cày nát ruộng lúa tiêu diệt đoàn quân Bắc Việt trên đường rút vô núi qua cánh đồng trước làng. Trong khi cánh quân ông Thắng và đơn vị yểm trợ bám sát đẩy lùi đại đội chính quy Bắc Việt về chụm cho đoàn thiết vận xa. Tiếng súng AK47 và tiếng Thompson, Garand, đại liên trên mui thiết giáp xa nổ vang rền bầu trời xã Nghĩa Thành, khói xanh bốc lên thành từng cột. Cánh địa phương quân đụng độ một toán cọng quân trong đó có một tay xạ thủ AK47 thật lợi hại, anh ta hăng say chiến đấu hết mình bên đồng đội. Tiếng súng AK47 áp đảo làm rát chân và nhiều lần chận đứng bước tiến của lính địa phương quân.

Trong trận tái chiếm xã Nghĩa Thành đại đội ông Thắng và đơn vị yểm trợ hạ sát và bắt sống một số tù binh quân Bắc Việt, trong số tù binh đó có một người đã từng đứng trong hàng ngũ địa phương quân của Quốc Gia chiến đấu mãnh liệt chống lại quân miền Bắc, đó chính là xạ thủ AK47! Ðúng, anh ta chính là xạ thủ đại liên 50 Rú của đại đội ông Nghiễm bị cọng quân bắt sống trong trận cầu Cây Bứa!

Sau khi bị bắt xạ thủ Rú xin được tái gia nhập quân đội Quốc Gia để đánh lại quân Cọng Sản! Cấp chỉ huy tìm hiểu lai lịch, biết khả năng đánh giặc của Rú và đã chấp nhận cho Rú gia nhập lại địa phương quân. Và ngay lập tức anh ta ôm đại liên 50 chung vai sát cánh quay đầu 180 độ tấn công quân đội Bắc Việt không một chút nương tay! Nhưng trong một trận giao tranh khác Rú bị quân miền Bắc bắt sống và anh ta lại ôm AK47 quay đầu hăng say chống lại quân đội miền Nam! Cho đến một hôm xạ thủ AK47 Rú tham chiến trong trận đánh lớn tại chiến trường Đổ Xóa, quân miền Bắc và miền Nam bao vây lẫn nhau nhiều vòng. Phòng chỉ huy kêu gọi giải cứu và hoanh tạc cơ Skyraider ném bom tiêu diệt. Trong số tử trận của quân Bắc Việt có xạ thủ AK47 Rú!

Có lẽ trong suy tư của xạ thủ Rú chiến tranh này chắc chắn sẽ không bao giờ là “chiến tranh ý thức hệ”, có chăng chỉ là cuộc nội chiến do ngọai bang tác động cho anh em một nhà chém giết lẫn nhau, cho nên dù cầm súng bên đây hay bên kia có khác gì!? Nhưng đó có thể là tư duy của Rú vì Rú cũng chỉ là một dân tộc thiểu số và đã làm sai lạc lý tưởng chận đứng sự bành trướng Cọng Sản đỏ của quân dân miền Nam. Nhưng cái đáng nói là hệ lụy của cuộc chiến. Hệ lụy đó là Việt Nam đã rơi vào quỹ đạo của chế độ Cọng Sản. Chế độ này đã và đang đưa đất nước đến đâu thì chắc hẳn người Việt Nam hiểu rỏ hơn ai. Vấn đề là những người đã theo, ủng hộ, và cộng tác để đưa đất nước đến hiện trạng ngày nay cần suy nghĩ và tìm cho mình câu trả lời chính xác cho câu hỏi: Tại sao người lảnh đạo Bắc Việt ngày ấy lại tôn thờ chịu sai khiến và nhận viện trợ từ Trung Quốc để tiến chiếm miền Nam Việt Nam, trong khi toàn dân Việt Nam muôn đời xem Trung Quốc là nỗi đe dọa và là kẻ thù xâm lược truyền kiếp của dân tộc?!

Sau khi đẩy lui bộ đội Bắc Việt đại đội địa phương quân ông Thắng tiếp tục đóng quân ở xã Nghĩa Thành để bảo vệ người dân làm ăn. Nhưng cũng sau lần thất trận trên bộ đội miền Bắc gia tăng quân số. Dường như mỗi đêm đều có đụng độ, và mỗi đêm tiếng đại bác từ đồn Cộng Hòa đều vang rền trên khắp ruộng đồng núi non và ở bìa làng. Khi bộ đội miền Bắc áp đảo về quân số họ từ từ xâm chiếm làng mạc và quân đội Quốc Gia có vẽ yếu thế. Nên về đêm những cuộc đi kích của đại đội ông Thắng dạt dần ra bờ sông và tránh né những thôn xóm nằm cận chân núi.

Và cũng trong thời gian này người ta thỉnh thoảng thấy những đứa bé ra đồng thả diều vui chơi. Những con diều có hôm có đuôi, có hôm trục lúc và mang nhiều màu sắc khác nhau.

Giao tranh hai bên vẫn tiếp tục xảy ra nhưng hầu hết là quân miền Bắc thắng thế do địa hình của chiến trường. Trong một trận đánh, đại đội ông Thắng cầu cứu việu trợ. Lính cứu viện di quân từ đồn Cộng Hòa đi xuyên qua núi Ngan. Tin cứu viện bị lộ và quân Bắc Việt phục kích hai bên lối đi phủ kín cây cối dưới bìa rừng. Khi đoàn quân cứu viện đi ngang qua, ho ập ra bắt sống trọn trung đội cứu viện mà không nổ một tiếng súng! Có hôm đầu bếp Mú của đại đội ông Thắng đang nấu ăn thì quân miền Bắc từ trong rừng ùa ra. Hỏa đầu quân Mú vừa đội nồi cơm trên đầu vừa chạy, chỉ năm phút sau là xuất hiện quân miền Bắc rượt theo sau!

Cuối cùng vào khoảng cuối mùa Xuân năm 1965 đại đội ông Thắng chỉ có mặt trong làng trước khi trời xế chiều. Ban đêm quân Bắc Việt hoành hành! Họ bắt đầu lục xét những gia đình giàu có trong làng thâu lúa gạo, ngũ cốc, tiền bạc gọi là đóng góp giúp “quân giải phóng”. Những ai bị gõ cửa đều phải đóng góp, và sang ngày hôm sau lại đi khai báo cho Quốc Gia biết là trong đêm đã “bị đóng góp” bao nhiêu. Việc khai báo này “quân giải phóng” không thể ngăn cấm được, vì nếu không cho khai báo thì coi như tiếp tế cho Cọng Sản, sẽ bị liệt vào hàng theo địch! Quân giải phóng được điềm chỉ và họ vào bắc bớ khủng bố tinh thần những người dân cộng tác với Quốc Gia, thậm chị bị thủ tiêu một cách dã man! Họ lôi một người chỉ làm một công việc tầm thường là đi rao loa kêu gọi người dân đi mít-tinh mỗi lần xã ấp có thông tin về hoa màu hay phân bón muốn cho nông dân biết, và một người phó đại diện xã đã về hưu ra cây rơm sau nhà. Xong họ đọc bản án người rao tin là kẻ phản động công cuộc giải phóng, và đập bể đầu chết trước mặt ông phó đại diện về hưu! Ông phó đại diện là người ra tin tức, thế mà họ đập chết người rao loa vì tội rao tin của ông phó đại diện!

Trong thời gian quân Bắc Việt tung hoành và khủng bố người dân thì vào ban đêm đã xảy ra phong trào “đi ngủ”. “Đi ngủ” là cụm từ dùng cho những người đàn ông có dính dáng với chính quyền Quốc Gia hay người giàu có trong làng. Hai thành phần này đều bị xem là có tội với cộng cuộc “giải phóng”. Cho nên trước khi đêm về những người này rời nhà mình đi đến nhà người quen nào đó trong làng mà ngủ! Ban tối họ về tìm bắt, lục soát khắp nhà không thấy họ chỉ nói qua loa vài câu rồi đi. Có khi người “đi ngủ” nằm trốn trong căn nhà “nguy hiểm” mà lại thoát chết! Nhưng sợ lưng mật! Ngày đó ngoài tiếng đại bác ngày đêm câu xuống từ đồn Cộng Hòa còn có tiếng chó sủa là âm thanh làm người dân trong làng mất ngủ và sợ đến run người! Trong đêm vắng có tiếng chó sủa là có “quân giải phóng” vào làng.

Rồi có một hôm ông đại đội trưởng Thắng về quận Nghĩa Hành họp. Ông để lại quyền chỉ huy cho Chuẩn Úy Học. Trong đêm Chuẩn Úy Học dẫn quân lính đi kích ngoài bờ sông và trong đêm đó yêm như tờ, không có lấy một tiếng chó sủa. Mới vừa hừng sáng quân lính ông Thắng trở về nhà dân nghĩ. Họ dựng súng ống nằm ngủ khắp nơi trong nhà, trên vỉa hè, dưới gốc cây. Họ ngủ say như em bé thì tiếng súng nổi lên từ khu nhà thờ Thiên Chúa Giáo! Quân bộ đội miền Bắc ùa ra từ nhà thờ Thiên Chúa như ong vỡ tổ và bên cạnh nhà thờ là ba căn nhà lớn lính ông Thắng đang nằn ngủ! Tiếng súng xé tan bầu không khí bình minh nã vào ba căn nhà lớn. Những người lính Quốc Gia người mặc quần đùi, người không có áo chạy tán loạn tìm cây súng trong giấc ngủ! Có người quơ được cây súng ra bờ mương cạnh nhà nằm núp chống cự lại. Nhưng hỏa lực quân miền Bắc quá mạnh và xảy ra quá đột ngột, lính ông Thắng bỏ làng chạy ra cánh đồng, lối thoát duy nhất không có tiếng súng của “quân giải phóng.” Nhưng ác nghiệt thay! Những người lính Việt Nam Cộng Hòa khi chạy ra đến ruộng đều bị trúng một viên đạn đại liên phòng không bắn ngay vào giữa trán! Thì ra trước khi tấn công họ đã đào một cái hầm tròn trên đỉnh gò Đồn trước mặt làng, chừa một ụ đất chính giữa và đặt cây đại liên phòng không trên đó! Người xạ thủ có thể quay khẩu đại liên 360 độ và thấy hình bóng người chiến sĩ VNCH chạy trên cánh đồng nằm lọt trong màn lưới ổ nhắm! Họ tấn công từ hai mặt và chỉ chừa cho lính VNCH hai lối thoát là chạy ra đồng hoặc chạy trong làng về hướng đèo Quán Thơm.

Hầu hết lính ông Thắng chạy ra cánh đồng. Chỉ có bảy người chạy trong làng về hướng núi đèo Quán Thơm thì còn sống sót! Dưới chân đèo Quán Thơm bảy người lính VNCH chiến đấu và lật xác ông gia nuôi lên bên cạnh khẩu AK47. Trong cái gùi trên lưng ông già nuôi chứa đầy tài liệu mật của bộ đội miền Bắc, vài ba con diều với ý nghĩa của từng màu sắc, của con diều có đuôi hoặc cụt đuôi, và có cả ngày giờ ông Thắng rời đơn vị về quận họp! Chiều hôm đó người ta lượm những chiếc nón sắt bỏ vào lưới khiêng ra bờ sông Vệ đưa về quận. Những chiếc nón sắt nặng trĩu trên vai người khiêng! Ông đại đội trưởng Thắng trở về lấy con đò ông Đàn qua sông mà lòng bùi ngùi, thương tiếc và nỗi giận, giận vì đã quá nhân đạo với một ông già điên điên khùng khùng!

Xã Nghĩa Thành hoàn toàn thất thủ và người dân lần lượt rời bỏ ra đi. Chỉ còn lại ngôi làng trống trơn, một ít người theo Cọng Sản, đám du kích và những người lính viễn chinh miền Bắc. Và bầy chó trong làng họ giết sạch để ăn thịt!


___________________
Đồng Sa Băng. 11/2011

Comments: 0 :: View Comments

Toggle this category Community Statistics

25 active user(s) (in the past 15 minutes)
0 members, 25 guests, 0 anonymous users
Google
Show by: Last Click or Member Name
Community Statistics
Our members have made a total of 21,527 posts
We have 337 registered members
The newest member is vuonghung
Most users ever online was 650 on 11 Oct 2011

Toggle this category New Members

Username Joined
vuonghung 29 June 2011 - 11:20 AM
NamHoa 16 June 2011 - 01:55 AM
Biển Chiều 28 April 2011 - 07:10 PM
Mit 28 April 2011 - 02:41 PM
BoiHan 23 March 2011 - 08:47 PM

Powered by Unreal Portal v3.0.2 © 2011 Unreal Solutions