Jump to content


Toggle this category Top Forums

Forum Topics Replies
Thơ sáng tác 584 4080
Những tác phẩm sưu tầm 434 388
Văn sáng tác 251 1768
Thi thơ đối đáp 220 915
System & Security 165 0

Toggle this category Top Posters

Username Posts
Yellow-Rose 3011
admin 2882
NangThuyTinh 1714
TửQuỳnh 1336
Cội Thông Già 659

Toggle this category Tháng Giêng tát Ðìa

Posted By:  DongSaBang @ 14 February 2012 - 03:32 PM
Tháng Giêng Tát Ðìa

Hắn thích câu cá, không, phải nói là hắn MÊ câu cá mới đúng. Mê đến độ có thể xếp vào hàng die-hard fisherman, tạm dịch là tên câu cá chết dở cho sát nghĩa. Hắn mê từ hồi còn ở quê nhà và khi qua tận đến Hiệp Chủng Quốc vẫn còn mê. Ngày còn ở quê, rờ tới con cá nào hắn bắt tuốt con đó. Nhưng bây giờ thì phải là cá nước mặn hắn mới bắt! Nói thiệt chứ ngày còn nhỏ nhiều khi rồng rồng mà hắn cũng không tha, lấy rổ vớt hết! Còn ở đây, có khi vào mùa Ðông lạnh teo cu mà hắn khóa cửa kín mít giao cho vợ xong, một mình hắn lái xe gần bốn tiếng đồng hồ xuống biển gặp anh Hoành để đi câu thì, trời đã nửa đêm! Không cần quảng cáo, chỉ nhìn cái tên của hắn là người ta cũng có thể đoán ra rằng hắn mê câu cá rồi, không mê sao đặt cái tên như thế! Ðến nỗi có người phàn nàng với hắn: phải cho biết tên đàng hoàng để gọi chứ hông lẽ gọi ông mãi bằng thế nầy sao! Hắn nói mược, ông cứ gọi như vậy đi, nhiều khi tui càng khoái nữa là khác, vì bản tính tui thích ruộng đồng, cá mắm.

Hành trình câu cá bên xứ Cờ Hoa nầy thì thôi, hắn kể đến gà gáy sáng mấy bận cũng chưa xong, nên không nói ra ở đây. Chỉ biết là hắn bắt đầu đi câu cá ‘lòng tong’ trên con suối giữa thành phố Philadelphia trong những ngày mới đến. Rồi từ con suối tí teo bên đường Lincoln Drive hắn ra đến tận Đại Tây Dương để câu cá to và nặng trên chục ký. Mà nói cho đúng hắn là tên die-hard fisherman chính hiệu con nai vàng nhưng cũng còn dưới cơ anh Hoành về vụ ‘die-hard’ nầy đến mấy bậc! Có nghĩa là anh Hoành thì khỏi phải lái xe ba bốn tiếng đồng hồ giữa mùa Đông lạnh teo cu để đến chỗ câu cá, mà ảnh dọn nhà xuống bờ biển ở luôn cho xong chuyện! Nhưng ai đi theo anh Hoành câu cá nhiều khi rầu lắm, rầu là gặp hôm không có cá muốn về sớm cũng không về được. Vì theo lý thuyết của anh Hoành thì: cá chưa ăn rồi nó sẽ ăn, mà cá đang ăn thì không thể đi về ngang xương được! Tức là ngồi tử thủ suốt đêm. Thử hỏi có ai kiên nhẩn bằng mấy tên die-hard fisherman! Từ cái vụ đi câu nầy hắn nghiệm ra là, cái gì cũng phải đam mê mới giỏi được. Chỉ trừ cái vụ đi học là không thể đam mê nổi! Vậy mà cũng có thằng học giỏi, thiệt không thể hiểu.

Người ta nói chim trời cá nước, nghĩa là hơn nhau ở chữ anh hùng mà thôi, hay là “mầy giỏi mầy câu tao coi”. Nhưng cá đầy biển vậy mà đâu phải dễ câu nó! Nếu không nắm vững vấn đề thì “đi không há lẽ lại về không” là chuyện thường. Vấn đề ở đây là phải hiểu mùa nào có loại cá nào vô, phải biết cá nào thích ăn mồi gì, phải biết canh giờ nào thủy triều lên thủy triều xuống để ra câu. Còn nếu đi ra mà gặp con nước không nhúc nhích thì xách c…ần đi về cho được việc! Ngoài ra phải biết cột lưỡi câu và chì như thế nào để bắt từng loại cá, nhiều khi chì nằm trên lưỡi, nhiều khi chì nằm dưới, và có khi khỏi cần chì luôn. Ôi thôi rắc rối lắm! Còn cái vụ phải biết giữ cần câu cho thẳng và phải biết nhấp như thế nào để cá nó cắn câu mà giựt. Nhiều khi nói vậy chứ không hiểu tại sao mình đứng câu cùng một chỗ, cùng con nước, cùng loại mồi mà sao ông bên cạnh giựt lia lịa còn mình thì đứng ngó thôi, thấy nhột chứ! Có lẽ ông đó có số đào hoa với cá! Nhưng nhằm ngày cá nó đi nghỉ Hè thì có đào hoa hay đào gì cũng gác cần lên bếp ngồi chơi thôi. Đó là chưa nói đến cách câu như câu chạy (trolling), câu giựt, câu dưới đáy (deep sea bottom fishing), câu phao, câu mồi giả (câu kiểu nầy kêu bằng chùm sò nề, con cá nào bị bắt nó sẽ chửi thề là bị chết gạt), câu trong băng tuyết (tức là vừa đục vừa câu), … Không phải Nguyễn Du trong Kim Vân Kiều đã nói “nghề chơi cũng lắm công phu” đó sao, nhưng, “không chơi thiệt lấy ai bù!”

Trên đây là nói đến câu cá trên biển, trên sông ở xứ Cờ Hoa nầy. Còn cách câu cá, bắt cá ở miền quê Việt Nam thì sao?

Nhắc đến miền quê hắn nhớ có một mùa Xuân hắn đã về thăm lại quê hương, sau khi không tìm ra được mái nhà xưa hắn buồn hắn đi theo cô gái bắt chuột trên cánh đồng. Rồi hắn giận cô gái, hắn uống ruợu say mềm để quên. Ngày hôm sau tỉnh rượu hắn gặp lại cô gái bắt chuột, và cô gái đã nhỏ lệ vì ... Ra đi không đành nên hắn quanh lại, nói:

- Thôi nín. Tự anh tưởng em chửi anh là thằng ngốc nên anh mới giận thôi.

- Để người ta khóc hết nước mắt rồi mới bảo nín, ác ôn vừa thôi nghen. Hết giận rồi phải hông. Hết giận rồi thì ông đi theo em ra đồng Sa Băng bắt cá chơi.

- Mới khóc như con thằn lằn đứt đuôi mà sao bây giờ ráo hoảnh lẹ vậy.

- Muốn khóc nữa hông?

- Thôi, sợ lắm.

- Vậy thì đi.

Hắn theo cô gái ra đồng, vặt bờ cỏ qua một bên, cột và so dây chiếc gàu rồi cùng cô gái tát đìa bắt cá. Lần đầu tiên hắn dùng gàu tát nước, hắn vụng thấy tệ. Cô gái chỉ hắn gập người xuống giật dây hất chiếc gàu ra rồi thả dây chùn lại hạ chiếc gàu xuống nước. Vục gàu chìm, nước chun vô đầy gàu thì giật tay miệng gàu lên trước và liền theo sau là kéo tay đít gàu lên. Hắn thấy cô gái ễnh người ra sau, hai tay kéo dây gàu lên khỏi bờ đìa xong cô hạ tay miệng gàu xuống trước và giật tay đít gàu lên sau, thế là nước trong gàu tuông ra đổ lai láng trên đất. Hắn làm theo cô gái một hồi rồi cũng ăn nhịp. Hắn và cô gái cúp người lại: chiếc gàu vung xuống đìa; cô gái ễnh người ra: chiếc gàu vụt lên từ dưới đáy; cô gái và hắn dừng người lại: nước trong gàu đổ ra. Hắn và cô gái đi theo nhịp đàn hồi, và mực nước dưới đìa giảm dần theo chiều tăng của niềm hân hoan cô gái. Nỗi vui nhộn tát đìa bắt cá với cô gái đã mang hắn trở về ngày xưa.

Ngày đó đồng Sa Băng sâu, rộng và có rất nhiều cá. Dưới đây là những cách mà dân làng hắn, kể cả những người sống bằng nghề đánh cá chuyên nghiệp và những người bắt cá nghiệp dư dùng để bắt cá trên ruộng sâu, ruộng cạn, trên suối và trên sông từ mùa khô cho đến mùa nước lụt.

Hãy bắt đầu trên ruộng cạn. Nói là ruộng cạn nhưng cũng phải có nước lấp xấp mới có cá, còn ruộng thật khô cạn như đồng lúa gieo thì cá đâu mà bắt! Ở ruộng cạn thì cách bắt cá thông dụng nhất là dùng loa, và ràng.

Loa được bệnh bằng những nang tre vót mỏng hay những nhánh cây nhỏ bứt đâu đó trên ruộng đồng buộc lại một đầu. Xong dùng lạt tre hay dây giang bệnh lại như hình cái rọ heo. Nghĩa là một đầu loa ra một đầu túm lại để cá chun vào đầu loa và bị kẹt ở đít loa. Dùng loa bắt cá bằng cách “trổ” bờ ruộng ra, đặt loa ngay chỗ trổ gọi là đơm loa. Và nếu cẩn thận hơn thì vạch nhiều rãnh nhỏ trong ruộng để cá theo đó mà lách đi, đi thẳng vào loa. Người ta chỉ đơm loa khi ruộng có nhiều nước cần tháo ra bớt, hay lúc lúa sắp chín không cần nước nữa. Thông thường chỉ nên đơm loa trên ruộng nhà thôi, còn đơm loa trên ruộng người khác họ bắt được họ ‘huýnh sạt gáo’, vì tháo nước ruộng người ta! Loa thường được đặt vào buổi chiều, sáng ngày thức dậy thật sớm ra dỡ loa, nếu ra trể quá thì người khác họ dỡ dùm loa của mình! Hắn nhớ có những buổi sáng, sương mai còn đọng trên ngọn cỏ hắn chạy lăng tăng trên cánh đồng để dỡ loa, niềm vui chan chứa khi trong loa có những con cá rô mập ú do ăn mầu lúa. Cá dính loa nhiều nhất là cá rô, cá tràu (cá lóc). Mà cá dính loa thì thường bị chết, vì loa không có chỗ để cá bơi lội và thở.

Ràng. Ràng có hình thù giống cái loa nhưng to hơn nhiều. Ràng đan bằng thanh tre vót mỏng, đít ràng nhỏ là nơi để gắn cái đụt, thân ràng có hình bầu dục lớn dần từ đít lên, cổ ràng được siết nhỏ lại và nơi đây có gắn cái toi để cá chỉ vô được mà ra không được. Sau cổ ràng là miệng ràng loa to ra. Có nhiều cái ràng mà miệng có đường kính cở vài thước, và có cái ràng miệng có đường kình chừng gan tay. Ràng thường được đặt giữa mương nước chảy hay trổ bờ ruộng đặt như đơm loa. Ngăn mương nhỏ lại, chừa một lổ trống xong đem ràng đặt sao cho nước chảy vào miệng ràng. Nhưng cũng có khi người ta đặt ràng ngược lại chiều nước chảy, vì nhiều khi trời mưa nước mát cá hay lội ngược dòng. Lâu lâu thì đi gỡ ràng bằng cách nâng đít ràng lên khỏi mặt nước, gỡ đụt dưới đuôi ràng và dốc cá ra. Nhưng ngán nhất là khi gỡ đụt ràng ra mà gặp rắn nước trong đó! Rắn nước chun vô ràng để ăn cá và kẹt trong ràng! Có người bắt nó đem về nhậu luôn!

Những cái ràng miệng to chừng vài thước thì thường được đặt lâu ngày trên mương lớn và gọi là cái đăng. Dùng phên tre đóng xuống mương như hình chữ V. Dưới đáy chữ V đặt cái ràng lớn. Dỡ đăng giống như dỡ ràng. Đăng được tháo ra đem về nhà trước khi nước lụt tràn về.

Ngoài ra trên mương lớn người ta còn đóng Sa để bắt cá. Sa gồm có những tấm mành mành đan sát nhau bằng thanh tre, xong giăng từ bờ mương thành hình cái phểu. Ở đáy phểu đặt một lớp mành mành hình chữ nhật, một phần ăn sâu xuống dưới nước, và một phần nằm trên mặt nước. Khi cá bơi qua đụng lớp mành mành dưới nước nó nhảy lên và mắc ‘cạn’ phơi mình ở lớp mành mành nằm trên mặt nước. Phía ngoài quận lỵ Mộ Ðức, trên cánh đồng, ngày xưa nhà ông Phạm Văn Du có đóng một cái Sa trên mương bên cạnh nhà.
Trên mương còn một dụng cụ bắt cá nữa là cái Ðó. Ðó có hai loại. Lọai hình thoi nằm trong mương nước, một đầu trống và một đầu buột vào cái toi trước khi gắn túi vải thay cho đụt để chứa cá. Loại hình trụ (còn gọi là Trúm) có mặt trước vuông là nơi gắn toi, và phần sau bầu bầu lại là nơi cá chun vào ở trong đó. Cách đặt Ðó cũng giống cách đặt ràng.

Trên đây là dụng cụ để bắt cá trên mương, nhưng còn cách khác để bắt cá trên mương là tát mương. Năm 1964 hắn theo Cha và người anh bà con đi tát mương. Khi tát xong, xuống bắt cá thì hắn đi sau để bắt hôi, nghĩa là hắn đi bắt những con cá nào còn sót lại sau khi người ta đã bắt. Nhưng hai người bắt ‘chiến’ quá nên chả thấy con nào lọt lại, hắn mò hoài mà trong cái đụt chỉ le nghoe vài con cá cấn. Hắn bèn thò tay vô cái đụt của Cha và người anh kia mà bắt cá bỏ qua đụt hắn. Suốt buổi tát mương không ai phàn nàn gì về chuyện hắn bắt hôi, nên lâu lâu hắn lại thò tay vô đụt bắt cá! Nhưng sau khi xong xuôi, người anh kia lấy cái đụt hắn dốc hết cá ra lấy lại. Hắn rầu thuối ruột! Ðâu phải trong đụt không có con cá nào hắn bắt hôi đâu!

Kế đến là bắt cá ở ruộng (nước) sâu. Quê hắn có cánh đồng rộng lớn, một phần cánh đồng nước ngập quanh năm, có chỗ sâu quá đầu người, không ai khai thác gì ngoài việc đánh và bắt cá trên đó. Và phần nước sâu đó gọi là đồng Sa Băng.

Ðồng Sa Băng có các loại cá như cá thát lát, cá tràu (cá lóc), cá trê, cá rô, cá giếc, cá gáy (cá chép), cá lia thia, cá cấn, cá lầu bầu, cá sặc, cá chạch, lương, v.v… Ngoài cá ra đồng Sa Băng có nhiều ốc bưu, ốc rạ, ếch, nhái, tôm, tép, chuột đồng, chim, cò, vịt nước, và lùng lác, v.v…

Cách bắt cá phổ biến trên ruộng sâu là thả lờ, thả câu giường, cắm câu, giăng lưới, đứng nhá, kéo vó, nhũi, đi te, dậm lưới, đào hầm, chụp nơm. Ngoài ra người ta còn câu rê, câu vịt con, tát ruộng, v.v…

Thả lờ. Lờ có hình thoi, dài chừng nửa thước, nơi giữa lờ rộng chừng miệng cái nón lá, hai đầu lờ có gắn toi là nơi cá chun vô. Lờ thường được đặt sát bờ ruộng, nhận chìm sâu trong nước. Sau khi đặt lờ xuống nước người ta phủ lên một lớp cỏ hay rơm rạ để cá thấy bóng mát mà chun vào. Hay cá đi kiếm ăn quanh bờ ruộng nơi có nhiều côn trùng rồi chun vào lờ hồi nào không hay!

Thả câu giường thì ngồi trên ghe hay lội bộ trong ruộng sâu. Câu giường gồm có một sợi cước dài có gắn phao, cách chừng một thước cột vào một lưỡi câu, xếp tròn trong một cái thúng có quay mang choàng qua cổ. Trên thành thúng có cắm một thanh tre chẻ làm đôi để móc những lưỡi câu vô cho khỏi bị rối. Vừa chống ghe đi vừa lấy câu ra móc mồi xong thả xuống nước. Mồi câu giường là trùn đất.

Cắm câu cần phải có rất nhiều cần câu. Cần câu cắm bằng tre, dài chừng một thước. Một phần ba cần được chuốt dẹp, mỏng và có độ nhún tốt, phần còn lại tròn và cứng để cắm lên bờ ruộng. Người đi cắm câu mang theo cở vài trăm cần câu cắm, vai mang đụt nhái, cách khỏang năm sáu thước thì móc nhái vào lưỡi câu cắm trên bờ ruộng, để con nhái còn sống bơi bơi trên mặt nước. Sáng ngày hôm sau ra thăm và nhổ câu, hầu hết cá ăn câu là cá tràu (cá lóc.) Nhưng bực mình nhất vẫn là rắn nước! Rắn nước thích ăn nhái nên thế nào trong một đêm cắm câu cũng có vài ba con rắn dính câu!

Giăng lưới thì vừa chống ghe trên ruộng sâu vừa thả lưới xuống nước. Nhưng ít khi thấy cảnh sau khi thả lưới xong người giăng lưới chống ghe đi lẹ, dùng sào đập vào nước, gõ vào thành ghe gây tiếng động. Cá trong nước hoảng sợ chạy toán loạn và mắc lưới. Hình ảnh người giăng lưới đứng trên một đầu ghe, vừa chống sào vừa nhún làm cho chiếc ghe vừa nhấp nhô vừa lướt trên mặt nước và tiếng sào đập chanh chách vào nước, có lẽ là hình ảnh hắn nhớ nhiều nhất trên đồng Sa Băng trong những ngày nước lớn.

Đứng nhá. Nhá đặt tại những nơi có con nước lớn. Khi kéo lên lưới thụng xuống và cá nằm trong lưới. Nhá lớn nặng nên phải có cái cần dài như đòn bãy để kéo nhá lên. nhỏ hơn nhá. Miền Trung vào những ngày nước lụt người ta thường mang áo tơi ra đứng nhá hay kéo vó ngay cả ở bờ sông và trên cánh đồng.

Dậm cá. Cái dậm gồm một khung lưới hình chữ nhật, ba mặt được cơi lên bằng lưới và chụm lại ở trên đầu, mặt còn lại để trống. Bên cạnh lưới dậm còn có một đòn cây hình chữ T lật ngược lại. Người dậm cá đứng trước mặt dậm, giang tay thả đòn hình chữ T xuống nước rồi dùng chân vừa nhập nhập lên đòn cây vừa đưa dần vô lưới, cá sợ tiếng động chạy vô lưới.

Nhưng dụng cụ lạ và có lẽ hiếm thấy là cái te. Te dùng để te tép tức là bắt tép (tép giống như tôm nhưng chỉ lớn bằng đầu chiếc đủa con). Te có hai phần, phần đầu là một miếng phên hình chữ nhật, đan bằng thanh tre mỏng, thưa có hình cong từ dưới lên trên, phần sau giống như cái nhũi cá có gắng túi vải mỏng thay cho đụt chứa tép. Phần sau gắn liền mặt lỏm phần trước bằng hai thanh tre từ hai bên hông. Thả te xuống ruộng sâu xong nắm cán phía sau vừa đi vừa đẩy tới, phần te lồi ra ở phía trước vừa cản vừa tách nước chảy qua hai bên hông rồi chảy ngược vô te lùa tép vào túi vải đựng. Đứng xa nhìn người đi te như con kênh kênh đi trên đồng!

Câu vịt. Cột lưỡi câu chùm vào chân vịt con, đi tìm chỗ nào có bầy rồng rồng thả vịt con xuống bơi lội phá bầy rồng rồng, cá mẹ bơi ở dưới bảo vệ bầy rồng rồng, thấy vịt phá cá con, nó đến cắn con vịt thì dính câu. Giựt mạnh cần câu một cái vịt con sút ra chỉ còn con cá mẹ dính câu. Nhưng câu vịt bắt con cá mẹ đi rồi thì, bầy rồng rồng con coi như tan nát vì, không còn mẹ che chở!

Ở miền quê sau ba ngày Tết người dân trong làng hay đi tát cá đem về muối để dành cho những lúc bận rộn công việc đồng án. Có lúc người ta mang xe đạp nước ra ruộng sâu đạp nước bắt cá. Trước khi đạp, người ta vạch năm ba đường rãnh cho nước rút. Khi nước cạn thì ôi thôi cá nó chạy bày kỳ, và nhiều nhất là trong những rãnh được vạch trước. Xong tay mang theo đụt, rỗ, và cá nằm bày kỳ trắng phếu chỉ việc bắt bỏ vô đụt. Nhưng có nhiều con cá, nhất là cá lóc cá trê và cá chạch, nó chui đầu trốn dưới bùn nên phải lòn tay xuống bùn mới bắt được. Cũng có con lẫn lộn trong bùn sình và sót lại, thì mấy người đi bắt hôi có cơ hội.

Quê hắn nằm trên bờ sộng Vệ, một trong ba con sông chính, đẹp và thơ mộng của Quảng Ngãi nên không ít lần đã đi vào thơ ca. Sông Vệ cưu mang cuộc sống của biết bao gia đình sống bằng nghề chài lưới mà người dân quê hắn gọi là ‘nậu ghe’. Nhưng đánh và bắt cá trên sông Vệ không chỉ có nậu ghe mà còn đủ mọi người sống hai bên ven sông, có cả hắn và những đứa con nít trong làng. Có lẽ một kỷ niệm không bao giờ phôi phai trong hắn là những ngày bờ xe nước trong thời kỳ hoạt động. Dưới chân trụ bờ độn và trong những tấm vĩ giữa những bánh xe có nhiều con hà, hà là một loại mồi rất nhậy để câu cá bống con. Bất kể những trận đòn và lời đe dọa từ mấy ông thợ xe, hắn cứ chun vào bờ xe nước móc mấy con hà ra để câu cá bống. Nước trong suốt hắn ngồi dương mắt nhìn con cá bống bò đến ngắm nghía con hà, xong nó thổi nhẹ một cái đẩy con hà ra xa rồi nó bò theo ngắm, thấy đúng là ‘cao lương mỹ vị’ nó bèn ngậm nước hút vô một cái, con hà trôi theo vào miệng. Nó nằm yên thổi thổi cho cát bay ra khỏi miệng, chỉ còn để lại con hà trong đó, nó yên tâm quay đi, thì đúng lúc hắn giựt dây câu lên! Không còn gì hồi hộp và vui sướng hơn là nhìn con cá bống con nó ăn câu mình! Và còn tuổi thơ nào để nhớ để thương!

Người dân quê hắn bắt cá trên sông Vệ, ngoài cách đi soi vào ban đêm, còn có chài lưới, kéo ngao, thả chà, cắm ống, thả rận, vân vân… Ngoài cá ra, sông Vệ còn cho dân làng vô số ốc gạo, ốc quắn, hến và lịch. Nhất là vào mùa kéo cát đắp bờ độn xe nước người ta dùng móc sắc để cào lịch, lịch giống như con lương nhưng nhỏ, có màu xám và ngắn hơn nhiều.

Kéo ngao là dùng một sợi dây dừa (dây thừng, hay dây ni-lông) lớn cở ngón tay cái, cách đoạn một gan tay người ta móc vào vài ba võ sò (gọi là ngao) nhỏ, trắng. Một sợi dây ngao có thể dài hàng trăm thước. Người ta bắt đầu kéo ngao từ bờ kéo xa ra rồi đi thành hình cánh cung đi vô, vừa đi vừa kéo vừa giựt dây ngao để những võ ngao va chạm vào nhau tạo thành những âm thanh lắc cắc truyền trong nước làm cá sợ mà lội đi. Nhưng lội về hướng dây ngao thì tiếng động càng lớn, cá lại sợ nên lội tránh xa nguồng âm thanh, tức lội vô bờ sông. Gần bờ người ta giăng lưới sẳn, khi dây ngao gần khép lại thì lưới cũng bao theo! Thế là tiêu đời mấy con cá!

Thả chà. Trên sông người ta cắm cây thành một vòng tròn, bên trong vòng tròn thả nhiều nhánh cây, khô có tươi có, gọi là thả chà. Chà có thể có nhiều lọai cây khác nhau cho nhiều loại cá cùng về ở. Khi dỡ chà thì mang lưới bao xung quanh, lấy chà bỏ ra ngoài, siết vòng vây lưới lại càng lúc càng nhỏ, và cuối cùng cá bị thu về một mối.

Rận được đan bằng thanh tre có hình thù như nửa cái vỏ sò lật ngữa lên. Phần ngoài cùng có thể rộng đến vài thước, bìa rận cao dần về phía gốc và cuối cùng chúm lại thành một nắm tay, nơi người ta buộc dây nắm kéo đi. Trước khi thả rận người ta cũng bỏ vào bên trong rận những cành cây như thả chà. Xong lôi rận thả vào nơi nước ‘hơi sâu’ và không chảy xiết. Cá tìm nơi yên tịnh để ở và làm ổ. Lâu lâu người chủ ra kéo rận lên bờ, cá ra không kịp bị kẹt trong rận!

Cắm ống. Ống là những ống tre lớn cở cổ chân cắt ngắn chừng hai đốt, hai đầu rỗng, khoét một lỗ nhỏ xuyên qua giữa ống nơi hai đốt giao nhau, và cắm vào một khúc tre dài vài ba gan tay thẳng góc với ống. Ðem ống cắm cho nằm sát trên mặt đáy sông. Cá bống là loại cá chun vào ống ẩn núp thường là cá bống dồ, tức cá bống lớn. Dỡ ống bằng cách hụp người xuống nước, dang hai tay bịt hai đầu ống rồi rút ống lên, nghiêng một bên cho nước chảy ra và, nếu có cá bống chun vào thì đưa miệng ống vào cái đụt, thế là có được những con cá bống trắng trẻo béo mập!

Trên đây là cách bắt cá trên ruộng đồng và sông nước. Nhưng làng mạc ở miền Trung Việt Nam nói chung và Quảng Ngãi nói riêng, những miền cận sơn người ta còn bắt cá trên suối và trong những cái đìa ở ven rừng.
Trên suối nhiều nhất là cá ‘leo’, cá tràu cỏ (nhỏ chừng cán dao), cá trê đen. Cá rô thóc (lớn không quá ba ngon tay) thấy nhiều trong các đìa nằm cạnh ven rừng. Câu cá rô thóc, cần câu ngày ấy rất đơn sơ, chỉ cần chặt cây trúc hay nhánh tre nhỏ, chuốt sạch lá, cột vào sợi dây cước dài chừng bốn năm thước và một lưỡi câu là xong. Móc trùn vào lưỡi câu, nhưng trước tiên là đi bức cộng điên điễn làm phao. Cá rô thóc và cá leo nhát nên đứng chỗ nào cho nó không thấy bóng mình. Thả câu xuống, một hồi sau thấy cái phao nhỗng đầu lên giựt giựt mấy cái xong cắm đầu xuống và, rút sâu trong nước là, a lê hấp, giựt lên! Nên giựt xéo cần câu để lưỡi dễ đóng. Con cá rô vàng hườm búng búng trong lòng bàn tay hắn, thử hỏi làm sao không mê câu cá được!

Tháng Giêng là tháng ăn chơi, là tháng mà ruộng đồng vẫn còn nguyên sau mùa gặt trước, đất chưa cuốc ải, ruộng chưa cày, mạ chưa gieo, bờ xe nước chưa lên bánh. Tháng mà nhà nhà trong ghè trong lu vẫn còn những hộc bánh Nỗ, mức Mè, mức Gừng, mức Bí. Tháng mà người ta vẫn còn nhâm nhi hương vị của ba ngày Tết. Và cũng là cái tháng mà người dân trong làng hắn thường ra tát đìa.

Đìa có chiều dài năm ba thước, rộng hai ba thước và sâu ngập đầu. Có lẽ thời chống thực dân Pháp người ta đã đào những hầm trốn bom đạn, trốn máy bay oanh kích, sau nầy trở nên âm u chứa đầy nước trở thành những cái đìa cho cá về ở. Hầu hết đìa ở quê hắn đều nằn ven rừng. Chỉ trừ vài ba cái nằm ngoài đồng, và một trong vài ba cái đó là cái đìa ở cầu Bân, cái đìa duy nhất nơi hai con mương lớn giao nhau để đổ về đồng Sa Băng.

Có một mùa Xuân hắn đã theo Cha lên tát đìa cầu Bân. Mùa Xuân đó, sau một thời gian dài mới tát lại nên cá trong đìa nhiều và lớn. Sau khi dùng gàu tát cạn nước, cá nằm phơi mình trên bùn. Hắn chạy lòng vòng trên bờ đìa chỉ tay xuống: A nó đây nề, con cá trê kia nề, …, con cá tràu to quá … to bằng bắp vế của hắn! Rồi hắn chạy tung tăng vui mừng chụp vài con cá Cha hắn vứt lên bờ. Cá nhiều quá hắn không biết làm gì cho hết thế mà hể có con nào bay lên bờ là hắn chạy đến chụp.

Và niềm vui Tháng Giêng Tát Đìa vẫn còn theo hắn!

Cô gái tát đìa nghe hắn la lớn: “Con cá tràu to quá…” và đứng ngẫn ngơ. Cô nói:

- Ông lại mơ về quê cũ ngày xưa của ông nữa rồi! Khổ quá, đã nói xa rồi đâu còn nữa mà sao cứ nhớ hoài.
Cô nói tiếp:

- Đìa cạn rồi đó, ông xuống bắt cá đi. Ðể em đưa cái đụt cho ông.

- Cho anh mượn cái cuốc hay cái gì đó để xén cỏ xung quanh bờ đìa rồi hãy xuống bắt.

- Kệ nó, ông khỏi cần quét dọn chi cho mệt, chỉ bắt cá thôi.

- Nhưng rắn nó trốn trong cỏ, ghê lắm!

- À quên đi, ông sợ rắn. Thôi ông lấy cây nầy đập lên bờ cỏ nếu có rắn thì nó bò đi. Tội ông quá, đi bắt chuột ông cũng sợ rắn, đi bắt cá ông cũng sợ rắn. Còn một con nữa ông cũng nên sợ cho nó đủ bộ.
- Con gì?

- Con cua.

- Cua mắc mớ gì mà phải sợ.

- Ông chưa bao giờ bị cua kẹp à? Cua kẹp giống như con cóc nó cắn vậy đó, chỉ có Trời gầm nó mới nhả ra, ông có nhớ hông?

- Có bị cắn hồi nào đâu mà nhớ. Mà em bắt cua làm sao cho khỏi bị cua kẹp?

Cô gái giải thích:

- Người Sài Gòn như miệt Nhà Bè thì họ dùng cộng kẻm có cái móc rồi thọt vào hang cua, ngoái ngoái mấy cái, con cua chịu không nổi nó kẹp cộng kẻm lại, họ kéo ra từ từ.

- Nhưng người mình thì bắt cua làm sao, em nói nghe coi.

- Người mình không bắt cua ông à. Người mình thấy hang cua thì thọt tay vô móc nó ra, gọi là đi móc cua. Ông có ăn mắm cua lần nào chưa?

- Chưa.

- Vậy thì ông chết hết nửa cuộc đời rồi! Để em kể cho ông nghe cách làm mắm cua nhé. Cua đồng đem về, phải nhiều mới đủ làm mắm, rửa sạch qua một nước xong bỏ vào cối mà quết. Quết cho đến khi cua nhuyễn ra thì bỏ vào miếng vải mùng hay cái khăn mà vắt để lấy nước, phần xác cua thì ném ra sân cho gà nó ăn. Khi vắt hết thì đem nước cua nấu lửa thâm thấp cho sôi, đừng có lấy đủa mà quậy sẽ chua, nêm nếm chút muối cho vừa miệng xong tắt lửa để nguội. Đợi vài hôm sau là ông có một hủ mắm cua màu nâu sậm ngon lành. Chỉ cần chạy qua nhà bà Phước nói bả bắt cho mấy con bún tươi còn nóng đem về chang nước mắm cua lên ăn, thì ông sẽ thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa của ba chữ tuyệt - cú - mèo! Bây giờ thì ông đi bắt cua đi.
Hắn cùng cô gái vạch bùn bắt cá trong đìa. Năm ba con cua màu tím chạy ngổn ngang trước mặt, hắn đưa tay ra chụp, bị cua nó kẹp. Đau quá hắn la trời rồi rãy rãy tay cho con cua sút ra, nhưng càng nhúc nhích con cua nó càng siết chặt lại. Đau quá hắn kêu lên:

- Em gỡ ra cho anh được không.

Cô gái bước đến dùng khúc cây đập con cua rơi xuống đất, rồi cô từ từ gỡ càng cua ra khỏi tay hắn. Cô nói:

- Ông nhớ em dặn nề, chớ có bao giờ chụp con cua như chụp chuột, nó kẹp chết. Ông bắt cua bằng cách lấy ngón tay cái hay ngón trỏ dí lẹ lên mu con cua, đè nó xuống rồi đưa mấy ngón tay kia ra nắm dưới bụng nó mà đưa lên. Ông nhớ đó, dí ngón tay lên mu nó chứ ông mà dí lên bụng nó nó lại kẹp ông chết dỡ nữa.
Trên cánh đồng lộng gió hắn bắt mấy con cua trong cái đụt ra, thả bò trên bờ đìa xong lấy ngón tay dí lên mu nó đè xuống, hết con này đến con khác. Hắn cười khúc khích, lẩm bẩm trong miệng:

- Kẹp nề, kẹp nề, … cho đáng đời.

Cô gái nhìn bản mặt khó diễn tả của hắn, cô lắc đầu:

- Ngốc ơi! Ngốc mất nết vừa vừa thôi. Ngốc hư quá chừng rồi!

Sau ngày tát đìa ấy hắn không còn trở lại nữa, và người con gái đã khép kín đôi cánh cửa.

____________
Đồng Sa Băng

Comments: 1 :: View Comments

Toggle this category Đường Xưa Lối Cũ

Posted By:  DongSaBang @ 01 February 2012 - 02:41 AM
Đường Xưa Lối Cũ


Lâu rồi tôi cứ hứa với lòng là sẽ có một ngày tôi quên đi những nhọc nhằn để về thăm quê hương một chuyến thật lâu, như ba bốn tháng gì đó. Tôi ước mơ sẽ được đặt chân trên khắp nẽo đường quê hương từ Nam ra Bắc, để được nhìn và thấy quê hương trong hơi thở và nhịp sống. Nhưng cũng bao lâu rồi mà tôi vẫn chưa thực hiện được giấc mơ đó, nên mãi ngậm ngùi mỗi lần nghe nhỏ Mỹ Tâm hát bài Làng Tôi. Khi tiếng nhạc và lời ca đã chìm sâu, tôi vẫn còn mơ và lời ca:

Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn … người bốn phương”

vẫn còn ngân vang trong đầu tôi. Năm 1992 tôi nghe và xem chương trình ca nhạc “Mùa Xuân Nào Ta Về” của Paris By Night vừa phát hành. Qua lời thuyết minh của nhà văn Duyên Anh, giọng đọc trầm buồn của người thiếu nữ như giăng sâu vào tim gan với những bản tình ca, hình ảnh những chiếc cầu, ruộng đồng, sông nước, và những mái lá nghèo nàn nằm bên hàng dừa nước của làng quê Việt Nam. Đã làm tôi rơi lệ! Duyên Anh đã trải lòng nỗi nhớ và trăng trở với quê hương thật thống thiết qua lời nói, nếu tôi không lầm thì là: “làng tôi, làng anh, làng Việt Nam chúng ta nó đang xoay chiều và càng lúc càng nhanh lên rồi đó.” Như ông đã viết để hỏi: “Mùa Xuân Nào Ta Về?

Có lẽ tôi cũng nhớ nhà như Duyên Anh, nhưng tôi không chịu nổi sự đợi chờ khi thời gian càng ngày càng trôi qua nhanh. Và có một Mùa Xuân tôi đã về.

Ngày tôi rời xa quê cũ không rượu, không trà, không có đuôi mắt dài nhìn theo bước chân tôi đi, không lễ tiễn đưa, không hồi còi tàu, không bịn rịn, và tôi cũng không biết tôi sẽ đi về đâu! Vì ngày ấy tôi chỉ là đứa bé ham vui bắt chim bắt cá trên đồng Sa Băng, thì bom đạn đổ xuống quê tôi. Thế mà Mùa Xuân đó tôi về, tóc đã hoa râm!

Đường dài mỏi cánh chim bay mãi rồi cũng đến lúc máy bay đáp xuống thành phố Sài Gòn. Tôi vẫn thương và muôn đời chỉ gọi là thành phố Sài Gòn mặc dù nó đã bị đổi tên! Anh tôi bảo lấy máy bay bay ra Đà Nẵng rồi lấy xe quanh ngược vào Quảng Ngãi cho lẹ và khỏe. Nhưng tôi quyết định đi bằng xe đò, vì tôi muốn được nhìn quang cảnh bên đường. Một con đường dài từ Sài Gòn về Quảng Ngãi, tôi tha hồ nhìn ngắm và ghi lại hình ảnh, vì có bao giờ tôi lại có được dịp may như ngày hôm nay. Và để đổi lấy những giây phút ngắm nhìn hình ảnh quê hương mà tôi hằng mong ước là thân tôi rả rời. Vì con đường dài và xấu. Nhưng nếu có lần thứ hai tôi vẫn không ngần ngại chọn con đường rả rời thân thể nầy!

Rả rời, bầm dập rồi cũng đến, và tôi đang đứng trên con đường đất đi vào chợ Thi Phổ một buổi sáng cuối Xuân. Tôi theo anh vào chợ mua ít nhang đèn để thắp cho mộ Cha và Bà Nội. Từ đây tôi nói anh chở tôi đi lại con đường xưa. Trong đời người có biết bao “con đường xưa”, những con đường xưa thường mang nhiều kỷ niệm đẹp, nhưng cũng có “con đường xưa” chỉ ghi dấu sự buồn phiền. Và con đường xưa hôm nay tôi đi lại là con đường mà ngày đó tôi chạy trốn!

Ra khỏi chợ Thi Phổ anh đèo tôi sau chiếc xe gắn máy anh mang theo từ Sài Gòn. Xe chạy về hướng thị xã Quảng Ngãi một chặp thì đến ngã ba Quán Lát, anh quẹo trái để về Hành Thịnh. Con đường đất đỏ ngoằn ngoèo đưa hai anh em tôi về xã Đức Thạch. Hai bên đường lúa xanh phơi phới và bên bờ mương tôi thấy chiếc xe đạp nước cổ kính của ngày xưa nằm phơi mình bên bờ ruộng. Tôi mừng quá, nói anh dừng xe lại. Tôi bước đến chiếc xe đạp nước đang được phủ kín bởi một tấm ni-lông bạc màu, tôi loay hoay nhìn kỷ như tìm kiếm một bảo vật, nhưng với tôi nó thật sự là một bảo vật. Thấy tôi như một đứa bé đang mân mê món đồ chơi, người chủ chiếc xe từ trong nhà bước ra. Tôi hỏi ông có thể cho tôi gỡ bỏ lớp áo ni-lông cũ kỷ để tôi chụp vài tấm hình, ông đồng ý, và hình ảnh chiếc xe đạp nước ngày xưa lại được theo tôi đi tận phương trời!

Tại đây anh tôi quẹo trái về Núi Đồi để chúng tôi thắp nhang cho Cha và Bà Nội, xong anh quanh xe lại chạy theo “con đường xưa tôi đi.” Một hồi sau chúng tôi đến chợ Vam. Đến đây tôi nói anh ngừng xe lại, tự dưng lòng tôi chùn xuống!

Nơi đây hơn bốn mươi năm về trước, năm 1965, gia đình tôi lừa bầy trâu chạy giặc từ xã Nghĩa Thành (nay là Hành Thịnh), chiều về Cha tôi cột bầy trâu ngoài chợ Vam trong khi cả nhà tạm cư trong nhà bà xã Thủ ở Đức Thạch. Tối xuống đàn trâu tự bức đức dây rồi một mình dẫn nhau trở về nhà. Sáng hôm sau Cha tôi lại đem gia đình trở về với bầy trâu. Ngày còn nhỏ có đôi lần tôi theo Mẹ xuống chợ Vam, nhưng lâu quá tôi không còn nhớ nhiều về ngôi chợ này. Chỉ nhớ đó là một ngôi chợ lớn có nhiều cá biển ngon như cá mòi, cá ngừ, cá chuồn, cá thu, cá hố, cá rựa, vân vân…, có bán đá cục, cà rem, quần áo đẹp, và có những đôi giày sơn-đanh (sandal) mà tụi con nít chúng tôi ngày ấy mơ có được một đôi để khoe trong ba ngày Tết. Mẹ tôi lâu lâu mới đi chợ Vam một lần, và mỗi lần được theo Mẹ đi xuống chợ Vam tôi mừng lắm.

Nhưng bãi đất và hàng cột ngày xưa Cha tôi cột đàn trâu nay không còn thấy nữa.

Tôi đứng trầm ngâm nhìn lại cảnh xưa một hồi, rồi nói anh tôi chở đi.

Một lát sau chúng tôi đến khu gò mã. Gò mã nầy ngày xưa có nhiều hàng Dương Liễu. Từ lối đi giữa mồ mã, tẻ ra một con đường mòn nhỏ để vào nhà bà xã Thủ ở Đức Thạch. Tôi lại nói anh ngừng xe lại. Nhìn những bụi xấp xôi và hàng cây bời lời hai bên đường tôi nhớ đến một buổi chiều.

Một buổi chiều cuối mùa Xuân năm 1965, khi tiếng súng tạm ngưng tôi dẫn đứa em trai, vai mang túi chanh tươi và mấy cục đường cát trắng, từ xã Nghĩa Thành xuống thăm người chị theo chồng đi lính, đang đóng quân ở quận Mộ Đức. Lúc đó xã Nghĩa Thành đã nằm dưới quyền kiểm soát của “quân giải phóng”. Việc đầu tiên “quân giải phóng” làm khi họ chiếm ngôi làng là đốn những bụi tre già nằm hai bên con đường chính trong làng, cho nằm ngỗn ngang bít lối đi chính. Tôi dẫn đứa em len lỏi trong vườn tược nhà người ta, nhìn đâu đâu cũng thấy đổ nát. Xóm làng lúc nầy nhiều người đã bỏ đi nên rất vắng lạnh. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp vài người du kích mang AK đi trong vườn cũng đủ sợ đứng tim. Tôi đi trên đoạn đường ngắn từ thôn Ba Bình đến đập Bến Thóc mà dường như dài vô tận, tinh thần căng thẳng như đi trong vùng tử địa! Tôi rất sợ bị du kích bắt gặp, dường như ngày đó họ có một ma lực khiến cả những đứa bé như tôi cũng khiếp sợ, và dường như họ có toàn quyền sinh sát những thành phần thuộc gia đình khá dã mà họ cho là giai cấp tư bản. Khi đến sông Thoa, bên kia bờ là xã Đức Thạch quận Mộ Đức thuộc vùng kiểm soát của Quốc Gia.

Anh em tôi run và sợ, hồi hộp bước lên cầu đập Bến Thóc, cây cầu làm bằng gỗ bắc qua sông Thoa để rời khỏi vùng Cọng Sản kiểm soát. Qua bên kia sông Thoa không còn thấy hình bóng người du kích nữa. Nhưng con đường cũng không có ai đi, vắng, lạnh, và mang một màu tang thương như bãi chiến trường vừa trãi qua cơn binh biến! Đi thêm một khúc tôi đến Gò Rộng là một bãi cỏ dùng làm sân vận động, xung quanh có nhiều cây Dương Liễu. Những ngọn gió thổi xuyên qua rừng Dương tạo thành những âm thanh rì rào nghe đến não nùng!

Tại Gò Rộng nầy những ngày thanh bình tôi theo mấy người anh lớn từ xã Hành Thịnh xuống đây đá banh và đua xe đạp. Bình thường khi nghĩ tới đua xe là tôi liên tưởng đến những tay cua-rơ cắm đầu cắm cổ chạy như chạy chết. Nhưng trong cuộc đua này người thắng cuộc không phải là người chạy nhanh nhất, mà ngược lại! Anh nào chạy chậm nhất, và tất nhiên không được ngã xuống đất, cộng thêm vào đó các anh phải giữ thăng bằng và cuối người xuống đất lượm cho được chiếc mũ nĩ thì thắng cuộc. Ngày đó các anh lớn quê tôi bày những trò chơi thể thao ngược đời!

Hôm đó Gò Rộng bao trùm tử khí. Qua khỏi Gò Rộng là đến khu gò mã, lối vào nhà bà xã Thủ. Không khí nơi đây còn rùng rợn hơn, không bóng người đi, chỉ có tiếng gió rì rào của rừng Dương, và những mảnh giấy vụn gió thổi lăn lóc trên những nắm mồ. Anh em tôi bước đi trong sợ hãi. Bất chợt có tiếng la lên: “Đứng lại. Đi đâu đó.” Và liền sau tiếng la là vài ba người ôm súng phóng ra từ bựi rậm đè đầu hai anh em tôi xuống đất. Họ lục xét trong túi vải tôi mang theo rồi hỏi lại một lần nữa: “Mang ba thứ nầy đi đâu?” Tôi sợ tái mặt và run run nói: “Em mang đường và chanh xuống thăm người chị dưới quận Mộ Đức.” Họ xem xét một hồi không thấy có gì khả nghi nên thả hai anh em tôi đi. Thì ra các ông là những người lính Dân Vệ đang rình mấy ông du kích. Vậy là anh em tôi thoát khỏi cửa ải tử thần, tôi mừng vì đã thật sự đặt chân vào vùng Quốc Gia an toàn. Và hai anh em tôi đi như bay xuống ngôi làng nhỏ nằm sau Quốc Lộ 1, đối diện quận lỵ Mộ Đức.

Qua khỏi “con đường xưa tôi đi” tức từ chợ Vam đến gò mã nhà bà xã Thủ, qua Gò Rộng, đến đập Bến Thóc, thôn An Ba, Mỹ Hưng, Đồng Xuân là đến thôn Ba Bình. Tôi vui mừng như ngày mới lớn theo Mẹ đi chợ. Tôi đã về nhà! Về lại mái nhà xưa, nơi chôn nhau cắt rún!

Lâu lắm rồi tôi mới trở lại, tôi lức láo nhìn xung quanh cố tìm một vết tích quen thuộc của ngày xưa. Cổng ngọ môn vào làng bắt choàng qua đường Cái Quan nay đã mất. Dãy nhà “xóm đồng” ngày xưa vào ngày mùa lũ trẻ chúng tôi mang lúa “mót” đến đổi bánh chén bà Tài Phú giờ sao thấy xa lạ. Góc nhà anh Tạ Phi Long và bên kia là nhà ông Lộng, người thợ rèn duy nhất chuyên rèn rìu rựa cuốc xẻn cho dân làng, là con đường vào xóm nhà tôi, nay cũng không nhìn ra được! Cây cối, vết tích, nhà cửa và con đường ngày xưa nay đã khác, khác nhiều đến nỗi khó nhận ra. Tôi như người lạc đường.

Tôi nhìn vào núi, xác định Gò Đồn Gò Rú và núi Đuôi Chuột, những ngọn đồi nầy không dễ gì bị thay đổi, rồi tự kẻ trong đầu những con đường tưởng tượng nối ba đỉnh đồi trên thành khu tam giác. Tam giác này bao trùm một vùng, vùng đó là đồng Sa Băng, cánh đồng nằm ngay trước mặt làng tôi. Từ giữa cánh đồng tôi kẻ một con đường giáp chân núi Đình Cương về phía Đông, đó là con đường đi xuyên qua làng tôi, và chính xác hơn nó là con đường đi ngang qua khu nhà tôi! Từ đường Cái Quan tôi theo con đường tưởng tượng đi vào một phần ba làng, là tọa độ ngày xưa tôi u oa chào đời.

Nhưng nhà đâu?

Tôi bước chân tìm khắp nơi nhưng chẳng thấy. Lòng bồi hồi tôi nhìn người xa lạ trên mảnh đất xưa. Thấy tôi như người từ đâu mới đến, em bước lại. Tôi lượm cành cây khô, lấy tay khỏa lớp bụi đường trên mặt đất, em nhìn tôi ghi nỗi lòng lên lớp bụi đường.

Tôi theo con đường làng ra bờ sông Ba Bình. Cũng không còn như xưa. Con đường làng ngày nay nhỏ lại, bãi cát rộng lớn ngày xưa nay bị xoi mòn! Tôi đứng nhìn và hồi tưởng lại một thời nơi đây là bờ xe nước, chỗ kia là chòi xe mà nhiều đêm tôi theo Cha ra ngủ dưới đêm Hè nóng bức. Xa xa ngoài giòng sông là bờ độn xe nước chạy dài qua An Chỉ, và chỗ tôi đứng là con dốc lớn, trãi dài xuống bờ sông. Sau lưng từng là dàn máng nước chứa đầy nước sông chảy rốc rách mang vô ruộng đồng. Nơi đây những buổi trưa Hè đoàn người lớn bé và trâu bò thường ra vào: trẻ con đi tắm, người thôn nữ quay tơ trên cát, bà mẹ gìa cặm cụi cày đôi bàn chân trên những lát khoai lang khoai mì trên bãi cát nóng bỏng. Nhưng tất cả bây giờ chỉ còn lại là giòng nước ăn sâu vào bờ lởm chởm cỏ xanh. Nhìn qua bên kia bờ sông Vệ là con dốc xuống bến đò ông Đàn, ngày xưa sớm chiều chở người sang sông đi chợ chiều An Chỉ, nay đã thành cỗ tích.

Tôi quay vô làng, hầu hết những con đường ngày xưa nay đều nhỏ lại và lệch đi. Tôi nhớ ngày xưa nhà nào cũng có sân trước sân sau. Những ngày lụt lội lúa ngập chìm trong nước, người ta huy động bà con ra gặt tháo gặt để, nếu không lúa sẽ mọc thành mộng, coi như bỏ. Lúa bị ngập lụt người ta chỉ cắt ngọn lúa, bó lại thành từng bó bỏ lên ghe chở vào bờ, rồi dùng đòn xóc đâm hai đầu hai bó lúa gánh về trải đều trên sân. Sau đó dùng trâu (hay bò) cột thành chùm ba bốn con rồi một người theo sau đánh cho nó đi thành vòng tròn, dẫm lên lúa. Người đánh trâu (bò) phải cầm cái thúng để mỗi khi trâu (bò) ngõng đuôi lên là đặt cái thúng sau đít nó để hứng! Người ta dùng cây xỉa lật ngọn lúa nằm phía dưới lên cho trâu đạp, đến khi hột lúa rụng hết thì cũng dùng cây xỉa xốc rạ bỏ qua một bên và phần còn lại trên sân là hột lúa. Lúa lẫn lộn với rạ nên phải dê nhiều lần lúa mới sạch.

Cái sân ở nhà quê có nhiều công dụng như dùng để phơi lúa, phơi củ lang củ mì, đường cục, đậu, bắp, vân vân… Nói chung là dùng để phơi lúa thóc và ngũ cốc thu gặt từ ruộng đồng. Và cái sân cũng là nơi bà con giòng họ tụ tập vui chơi trong ngày giỗ, Tết nhứt. Nhưng đối với trẻ con thì cái sân và con đường làng là nơi bắn bi đánh đáo vui chơi. Và cũng nơi đây tình cảm và kỷ niệm về làng quê sẽ đi vào ký ức sau nầy. Nhưng ngày nay bước xuống cái hè là đụng đám củ mì củ lang. Có tuổi trẻ nào không gắn liền với cái sân nhà. Nhưng ngày nay mấy nhà còn có cái sân!?

Tôi trở lại thăm nhà thằng bạn cũ, ngày xưa có năm sáu thằng bạn nhưng bây giờ chỉ còn lại đây một thằng! Nó bảo

“Bao nhiêu năm rồi mầy mới trở lại, mầy muốn ăn cái gì tao sẽ đãi.”

Nhìn xung quanh cảnh nhà nó, tôi nói:

“Thôi, không cần cầu kỳ gì đâu. Mầy có món quê hương nào hông, mang ra đây nhậu chơi. Lâu rồi tao muốn ăn món đặc sản của quê mình lắm.”

“Vậy thì chuột đồng trộn mít non, mầy thấy sao?” Nó đề nghị.

Tôi liếm môi nuốt nước miếng cái ực, và trả lời nó một chữ ngắn gọn:

“Tuyệt.”

“Vậy thì tao đi hái vài trái mít non đem luột rồi xét mỏng ra, rang ít hột đậu phụng, hái ít rau răm và lá lốt là xong.”

“Còn chuột đâu, ai đi bắt?” Tôi hỏi.

“Mầy khỏi lo.” Nó quay vào nhà trong và gọi:

“Út đâu ra đây nhờ chút coi.”

“Dạ.” Cô gái miệng nhai nhỏm nhẻm đứng bên cửa nhà bếp nói ra.

“Em ra đồng bắt cho anh mấy con chuột mang về đây.”

Cô gái không trả lời, đi thẳng ra sau nhà lấy cây gậy, xong nhìn tôi cô nhoẻn miệng cười một cái, cô bước xuống hè và búng hai ngón tay ngoắt con chó chạy theo. Xéo một phút cô gái và con chó đã đi hút ngoài xa.

Tôi nói thằng bạn:

“Chỉ một mình em mầy mà là con gái mà bắt được chuột à?”

“Nghề của nó đó, mầy đừng coi thường con gái ngày nay.”

“Hay để tao đi bắt chuột với em mầy nhe, lâu rồi tao cũng muốn đi bắt chuột như ngày xưa cho vui.”

Không đợi thằng bạn trả lời, tồi liền phóng chân bước theo cô gái.

“Ông ra đây làm gì?”

“Phụ bắt chuột với em.”

“Làm sao ông bắt được chuột?”

Nhìn lại trên tay tôi không có vật gì để bắt chuột, mà chuột lại hay cắn mỗi khi bắt nó. Tôi chưng hửng đứng nhìn cô gái, hóa ra tôi chỉ theo làm bận chân cô.

“Chắc em bắt chuột giỏi lắm hả, em tên gì?”

“Mi.”

“Mi là mèo đó hả, mà mèo thì bắt chuột giỏi là đúng rồi.”

“Ông sai rồi, mèo lười bắt chuột lắm. Nó chỉ bắt khi nào thấy đói, còn không thì nó nằm yên một chỗ liếm lông thôi, nên ông không thấy em mang con mèo mà em mang con chó theo đó. Nhưng tên em là Mi như nốt thứ ba trên khung nhạc đó, anh kế em tên là Rê.”

Cô gái dẫn con chó ra mé ruộng sâu đồng Sa Băng. Cô bắt đầu đi tìm trên bờ ruộng, những nơi nào có hang là cô cuối xuống nhìn. Cô biết hang nào không có “dân cư” trong đó và cô cũng biết hang nào của rắn và hang nào của chuột. Cô giải thích:

“Cửa hang nào có dấu chấm lốm đốm là hang chuột, còn cửa hang nào trông bóng láng là hang rắn.”

“Có khi nào em đào lộn hang rắn không?”

“Ông sợ rắn lắm phải hông? Cũng có nhưng chỉ khi nào rắn vào bắt chuột trước mình và còn nằm lại trong đó.”

“Lạy Trời chuyện đó không xảy ra hôm nay.” Tôi nguyện cầu.

“Ông đừng lạy Trời mà ông nên lạy em đây nề.”

“Là sao?”

“Là chỉ có em mới cứu ông khỏi bị rắn cắn thôi. Mà sao ông về đây chỉ có một mình và khi nào ông lại ra đi?”

“Anh về đây với người anh.”

“Ý em hỏi không phải như vậy.”

“À, thì anh chỉ có một mình nên chỉ đi một mình.”

“Nói chứ em biết ông rồi. Ông về đây thấy buồn hơn vui phải hông?”

“Sao em biết?”

“Thì ông đề bài thơ nỗi lòng của ông còn trên bụi đường đó. Thôi để em bắt chuột mang về cho anh em đãi ông. Ông nhớ nếu gặp rắn thì đứng yên một chỗ đừng nhúc nhích. Ông muốn xua nó đi thì đưa mu bàn tay ra, ểnh ểnh mu lên rồi hất hất mấy ngón tay về phía trước. Còn ông muốn cầu cứu em thì cũng đưa mua bàn tay ra, ểnh ểnh mu cong lên rồi ngoắt ngoắt mấy ngón tay lại, đừng gây tiếng động rắn nó tấn công.”

“Ừ, anh sẽ nhớ.”

Cô quơ lấy một mớ cỏ, khô có ướt có, rồi nhúm lửa đốt trước miệng hang chuột. Cô lấy nón lá quạt khói cho bay vào hang, ở ngách hang khác cô cho con chó đứng chờ. Lửa càng lớn khói càng nhiều và khói chun vào mọi hang cùng ngõ hẻm nhà chuột. Chịu không nổi chuột chạy ra, một phần bị chó chụp, một phần cô gái dùng gậy phan. Cô phan rất giỏi, không con chuột nào thoát khỏi tay cô, chỉ một nhát thôi là con chuột nằm ngay đơ. Một con chuột chạy ra ở ngách khác, tôi liền nhảy đến chụp. Bị con chuột nó cắn một nhát, đau quá tôi buông ra. Cô gái nhảy đến đập nó một cái, nó chưa chết và đứng đó. Cô gái bảo tôi bắt nó bỏ vô đụt, tôi nhảy đến chụp, lại hụt, con chuột bò đi. Thấy con chuột bỏ đi, cô gái nhìn con chó rồi chỉ tay về phía tôi, quát lớn:

“Ngốc, ngốc, chạy lẹ đi bắt nó.”

Tôi bỏ cô gái ở lại một mình. Tôi đi về. Tôi giận lắm.

Hôm đó tôi nhậu chuột đồng trộn mít non với thằng bạn lâu ngày không gặp. Món nhậu ngon, rượu ngọt, tôi uống say mềm và muốn quên đi tất cả. Trong cơn say ngà ngà tôi hỏi thằng bạn:

“Em gái mi coi bộ ngông quá hả?”

“Ừ, nó ngông lắm. Mầy mà nghe nó đặt tên mấy con mèo của nó mầy cũng phải ớn, như Mai Thanh Tặc, Chu Như Tố, vân vân ... Tính nó ngông và cứng rắn lắm, nhưng hông phải lúc nào cũng vậy đâu. Những chuyện đụng đến con tim là nó mít ướt.”

“Mấy tên trên đây mang ý nghĩa gì?”

“Tao đâu có biết, nghe nó giải thích đại khái như heo mèo dê là ba con hợp nhau tức là tam hạp đó, mà con mèo nào suốt ngày ngồi vuốt bộ lông làm đẹp thì nó đặt tên là Chu Như Tố, Chu là họ nhà Trương Bát Giới đó.”

“Còn Mai Thanh Tặc là gì?”

“Ừ, thì nó nói Mai là mộc mà mèo hay mão thuộc hành mộc, còn Tắc là ba cái ngũ cốc nó đựng trong phòng nó. Con mèo nào chuyên môn leo trèo lên tủ lục lội phá phách đồ ăn của nó là nó đặt tên Mai Thanh Tặc, Tặc là giọng Huế của Tắc đó.”

“Tao nghe hay chứ có gì đâu mà ớn.”

“Ðó là chuyện của mèo, còn chó thì khác nhe mậy.”

Sáng hôm sau tôi đến từ giả thằng bạn. Khi bước ra khỏi ngõ, tôi quay đầu nhìn lại thì thấy Mi đưa tay lên vẫy tôi lại. Tôi trở lại.

“Em kêu tôi lại để nói gì tôi nữa?”

“Không có, em vẫy tay chào ông đi khỏe mạnh chứ có kêu ông lại đâu.”

“Sao tôi thấy em đưa mu bàn tay ra, ểnh ểnh mấy cái rồi ngoắt ngoắt lại.”

“Không có, cái đó là em kêu con Ngốc lại cho nó ăn. Ngốc là tên con chó em mang ra đồng Sa Băng bắt chuột cho ông hôm qua đó. Thôi, ông đi lẹ đi, không em khóc bây giờ.”

Tôi bước đi mà lòng ấm lại!


____________
Đồng Sa Băng

Comments: 5 :: View Comments

Toggle this category Community Statistics

149 active user(s) (in the past 15 minutes)
1 members, 148 guests, 0 anonymous users
Google, MinhNghia
Show by: Last Click or Member Name
Community Statistics
Our members have made a total of 21,648 posts
We have 337 registered members
The newest member is vuonghung
Most users ever online was 650 on 11 Oct 2011

Toggle this category New Members

Username Joined
vuonghung 29 June 2011 - 11:20 AM
NamHoa 16 June 2011 - 01:55 AM
Biển Chiều 28 April 2011 - 07:10 PM
Mit 28 April 2011 - 02:41 PM
BoiHan 23 March 2011 - 08:47 PM

Powered by Unreal Portal v3.0.2 © 2011 Unreal Solutions