| |
| Posted By:
DongSaBang
@ Yesterday, 02:42 AM |
Bunker Hill
Sau khi tốt nghiệp bằng Cử Nhân Kỷ Sư Ðiện, khóa 1980 Drexel University, tôi về “ăn nằm” với một công ty điện lực ở Thủ Đô. Bốn năm sau, đầu năm 1984 tôi lấy bằng Thạc Sĩ Kỷ Sư Điện từ The George Washington University sau khi lập gia đình được một năm. Tức là từ đầu đến cuối tôi thuộc về thứ “điên nặng”, kể cả chuyện lập gia đình! Sau khi lấy bằng Thạc Sĩ, theo đúng “giao kèo” nếu tôi muốn “xù” công ty “nuôi” tôi ăn học chương trình Thạc Sĩ thì tôi phải “trả nợ” thêm một năm làm việc cho họ. Và đúng một năm sau, năm 1985 tôi “xù” công ty điện lực sau bốn năm “cật lực” làm việc! Ở thời điểm 1985 có hai sự việc liên quan đến bài viết này: một là chiếc tàu chiến USS Bunker Hill được hạ thủy tại xưởng đóng tàu Litton-Ingalls Shipbuilding Corporation thành phố Pascagoula, Mississippi; Và hai là tôi bắt đầu nhập cuộc vào công việc … bom - đạn!
Trong một ngày Hội Chợ Việc Làm (Job Fair) được tổ chức tại Trung Tâm Hội Nghị ở Thủ Đô, tôi trướng bộ đồ “côm-lê” màu càfê sữa và bước vào lều Martin Marietta Corporation (1). Sau khi xem xong đơn xin việc của tôi, hai anh chàng kỷ sư trẻ tên Dupree và Bennett muốn phỏng vấn tôi. Dupree là kỷ sư điện và Bennett là kỷ sư cơ khí. Sau hơn 45 phút quần nhau trong căn phòng nhỏ, Dupree hỏi:
-“Cậu muốn được trả bao nhiêu?”
Tôi nhìn Dupree cười mỉm chi cọp, xong đáp:
-“Nhiêu cũng được”.
-“Nhiêu là nhiêu, cậu không có tiêu chuẩn à?”
-“Không. Nhiêu cũng được.”
-“Tăng 20 phần trăm từ lương cũ, được không?” Bennett vừa cười vừa nói.
-“Ok.”
Tôi vui vẻ nói chữ Ok mà trong lòng mừng còn hơn được gái đẹp rủ đi chơi!
-“Vậy chừng nào cậu có thể trình diện?” Dupree hỏi.
-“Ba tuần sau, nhe.”
-“Được. Đây là gói thông tin về công ty của chúng ta, trong nầy có hướng dẫn địa chỉ, phòng nhân viên, giờ giấc và số điện thoại của người sẽ đưa cậu đi làm thủ tục trong ngày đầu. Gặp cậu ba tuần sau.”
-“Cám ơn và gặp lại sau.” Tiếp theo là hai cái bắt tay thân thiện.
Tôi được nhận việc làm ngay tại chỗ! Ngày hôm sau tôi đưa đơn từ chức công ty điện lực, những người bạn trong cơ quan cũ cũng lấy làm ngạc nhiên vì tôi đổi việc làm quá lẹ! Tôi lấy một tuần nghỉ xả hơi, và tháng 4 năm 1985 tôi về làm việc cho Martin Marietta, một công ty lớn chuyên về vũ khí quốc phòng.
Tôi rất phấn khởi được gia nhập vào việc làm High Tech, hoàn toàn khác biệt với những công việc tại công ty điện lực. Nhưng điều làm tôi phấn khởi không phải chỉ ở sự thách thức của công việc mới mà luôn cả đội ngũ nhân viên mới, từ thư ký đến kỷ sư trưởng đều là những người rất trẻ, hầu hết không quá 30 tuổi. Riêng cô thư ký thì trẻ đẹp và “điệu” còn hơn mấy “Bà Già L19” (2) của công ty cũ nhiều. Những cô thư ký lúc nào cũng ăn mặc theo thời trang và duyên dáng, tôi cảm thấy mình như được thổi mát bởi một làn gió mới.
Martin Marietta Corporation có nhiều chi nhánh rải rác nhiều nơi trên đất Mỹ, và tổng số nhân viên thời ấy có trên 25 nghìn người. Nơi tôi nhận việc là một chi nhánh ở ngọai ô thành phố Baltimore. Ngoài những sản phẩm như xe tăng, mẫu tàu ngầm, tàu chiến, và những thí nghiệm dưới lòng đại dương, vân vân…, thì chi nhánh Baltimore là Kiến Trúc Sư cho hệ thống phóng hỏa tiễn, gọi là VLS (Vertical Launching System) Mk41.
VLS là hệ thống phóng thẳng hỏa tiễn được gắn trên tàu chiến, tàu ngầm và Hàng Không Mẫu Hạm. Tùy theo loại tàu chiến (CG, DDG, CV) có thể nhận một, một rưởi, hoặc hai VLS magazines. Mỗi VLS magazine gồm có 7 standard modules và một Strikedown module. Mỗi module có 8 cells, trừ Strikedown module chỉ có 5 cells và một cần trục dùng để nạp và gở các cell hỏa tiễn. Mỗi cell có thể chứa từ một đến bốn hỏa tiễn, tùy theo loại hỏa tiễn. Tất cả các cell chứa hỏa tiễn đều được nằm bên trong và dưới hầm tàu. Tóm lại, một chiến hạm thuộc lớp CG (3) có thể chứa được 122 cells (hai magazine) và lớp DDG (4) chứa được 90 cells (một magazine rưởi). Sự hữu hiệu của VLS là do hai tính chất: một là số lượng hảo tiễn tồn kho trên tàu; và hai là nhịp độ phóng cũng như tầm công phá của hỏa tiễn. Hệ điều hành của VLS là dàn máy vi tính (Digital computers) gắn liền với Trung Tâm Hành Quân trên tàu hoặc đất liền, nơi có khả năng kiểm tra tồn kho và ra lịnh phóng hỏa tiễn.
VLS Magazine
Trong giai đoạn thiết kế và điều chỉnh, mô hình kích thước nguyên của VLS được thiết lập tại chi nhánh Baltimore để ráp đặt, thử nghiệm và lấy dữ kiện. Mô hình gồm một phòng thí nghiệm vi tính, và một strikedowm module. Hằng ngày các kỷ sư điện, cơ khí và những người thảo chương trình điện toán đến để thử nghiệm. Dữ kiện và kết quả thử nghiệm toàn là những chuỗi tín hiệu mang số 1 và 0. Những chuỗi số li ti chạy lạch cạch trên mặt giấy là những tín hiệu phát đi tư Bộ Tư Lịnh Hành Quân trên phòng điều hành xuống VLS magazine và ngược về. Những tín hiệu dùng để kiểm tra hỏa tiễn tồn kho, khởi động hệ thống VLS để mở nắp cell, kích động phòng nổ thứ nhất nâng hỏa tiễn từ từ ra khỏi cell, kích động phòng nổ thứ nhì để phóng hỏa tiễn bay vào quỹ đạo với vận tốc cao, kích động hệ thống phun nước làm nguội hầm phóng, đóng nắp hầm và đưa tín hiệu phóng thành công về phòng chỉ huy.
Mỗi buổi sáng tôi chạy chiếc Spitfire nhỏ, hai chỗ ngồi, mui trần, sơn màu vàng … khè … để đi làm. Chiếc Spitfire nhỏ và nhẹ đến nỗi có những hôm tôi chạy trong đường hầm xuyên qua vịnh Chesapeake Bay, gặp xe be chạy ngang thổi chiếc xe Spitfire muốn bay ra khỏi mặt đường! Thế nhưng có những hôm tôi chất một đống 4 tên trên chiếc Spritfire 2 chỗ ngồi đi ăn trưa. Những đứa bạn thượng lên, chiếc xe chìm xuống và thở xì khói trong tiếng cười ngặt nghẽo của lũ ham chơi … nổi.
Đội ngũ VLS gồm những kỷ sư trẻ và sắc bén. Họ thấu hiểu từ trong ra ngoài hệ thống VLS và cống hiến những kiến thức giá trị làm nên sự thay đổi lớn. Họ là những người lầm lì trong phòng thí nghiệm, bước đi trầm ngâm trên sân với những suy tư. Và khi xếp hàng vào phòng ăn những người bạn nhìn hắn với cặp mắt “tiếu lâm”, một tên nói: Hê, thằng Les kìa, hắn là một thằng “xúc cát”. Les từ xa, nghe thằng bạn xỏ lá nói tục về mình, bước đến để gia nhập đám bạn đang xếp hàng và tên đó nhìn Les, cười đờ-mi và nói tiếp: Không, hắn không chỉ là thằng “xúc cát” mà là một thằng “xúc cát” thông minh. Mọi người cười thích chí, Les cũng cười theo. Nhưng trong ánh mắt của họ chứa đầy sự nể nang và thán phục một người kỷ sư tài ba!
Nhiều ngày dài tôi thử nghiệm trên mô hình VLS với những tín hiệu: Điện sẳn sàng, mở nắp, châm phòng cháy thứ nhất, đầu đạn bò ra, tách rời dây rún, đầu đạn rời khỏi nắp, châm phòng cháy thứ nhì, đầu đạn bay đi, xịt nước cho nguội, đóng nắp, bắn thành công … và những tiếng nghiến răng của nắp hầm cứ lập đi lập lai! Những dữ kiện thâu thập được dùng để tái điều chỉnh và sửa chữa để “làm đẹp” hệ thống VLS cho đạt mức “chân-thiện-mỹ” để nó hoàn thành trách nhiệm được giao phó ngoài chiến trường là, bắn cho ngon, bắn cho ngọt, và bắn sao cho khỏi bị chê là “đồ súng dỏm!” Với những gói dữ kiện thu thập được trước khi bay ra tàu chiến để sửa chữa, tôi vui tươi bước đến bàn làm việc của cô thư ký Cathy, và bảo:
-“Đặt cho anh một vé may bay, giấy tờ mướn xe và một khách sạn tại thành phố Pascagoula, nhe.”
Sau khi nói hết những gì tôi muốn nói, Cathy đứng dậy:
-“Cù loi nè, anh không biết mình đang có cái gì à, ngốc.”
Tôi ngạc nhiên:
-“Mắc chứng gì với em hôm nay. Em ngứa hả?”
Cathy giận lên đùng đùng và như muốn nuốt sống tôi. Tôi rời bàn Cathy đến gặp Myra, một cô thư ký khác:
-“Cathy hôm nay bị sao vậy, điên rồi à.”
-“Đừng quấy rầy nó, nó đang dính cái đó đó.”
-“Có đó là cái gì? Và ăn nhằm gì đến việc đặt vé máy bay chứ?”
-“Anh không biết cái đó của con gái thật à?”
-“Con gái mấy em có nhiều cái lắm, biết em nói cái nào chứ.”
-“Tội ngốc quá, cái của đàn bà con gái mà không biết, cái mà lâu lâu bị một lần đỏ chót giống như mặt của thằng Tàu khựa vậy đó. Nó làm cho con gái nóng tính vô lý như Cathy vậy đó, hiểu chưa. Nhưng Cathy đã sửa soạn vé máy bay và đặt trên bàn của anh rồi mà.”
Tôi trở lại bàn làm việc và thấy mấy cô thư ký này không còn hấp dẫn như làn gió mới nữa!
Những sửa chữa và tái điều chỉnh trên mô hình phải được mang đi thực hiện trên hệ thống VLS gắn trên tàu chiến. Chiếc tàu chiến đầu tiên được nhận hệ thống VLS là chiếc USS Bunker Hill (CG-52). Bunker Hill thuộc lớp Hỏa Tiễn Định Vị Tuần Dương Hạm (5), sau này được gia nhập vào lớp Hỏa Tiễn Định Vị Khu Trục Hạm (6). Chiếc tàu được mang tên từ trận chiến Bunker Hill ngày 17 tháng Sáu năm 1775 trong Chiến Tranh Cách Mạng Mỹ. Bunker Hill là tên một ngọn đồi bên cạnh thành phố Boston.
Trong số tàu chiến của Hải Quân Mỹ ngày nay, có một chiếc mang tên một thành phố của Việt Nam, đó là chiếc USS Huế City (CG-66), lấy tên trận Tết Mậu Thân 1968 tại thành phố Huế.
USS Bunker Hill (CG-52) được khởi sự đóng vào tháng 11 năm 1984 tại xưởng đóng tàu Litton-Ingalls Shipbuilding thành phố Pascagula, tiểu bang Mississppi; Hạ thủy tháng 3 năm 1985 và bắt đầu hải hành tháng 9 năm 1986.
Cuối mùa Thu năm 1985 tôi thường bay xuống Pascagoula cùng với Les để điều chỉnh và retrofit hệ thống VLS trên chiếc Bunker Hill. Trong thời gian này Bunker Hill ngày đêm có hàng trăm thợ thuyền chạy mũi hàn ráp đặt thân tàu. Ngoài việc ghi nhận những tín hiệu điều hành từ bộ não vi tính ở phòng hành quân, tôi phải chun trong không gian chật hẹp bên cạnh những cell hỏa tiễn để điều chỉnh lại hệ thống điện cung cấp cho VLS. Trong phiên bản thiết kế đầu tiên, khi khởi động, hệ thống VLS “rút” dòng điện khởi đầu (in-rush current) quá cao trong một thời gian quá ngắn. Ðiều này có thể làm nhảy cầu chì đưa đến tình trạng cúp điện toàn hệ thống trên tàu. Để khắc phục sự việc này, hàng trăm giờ đồng hồ được đầu tư vào việc ứng dụng phần mềm SPICE (7) để thiết lập mô hình điện mới cho hệ thống VLS. Qua SPICE cường độ dòng điện “in-rush” được giảm xuống và thời gian “charge” kéo dài ra để khỏi “giật sập” hệ thống điện trên tàu mỗi lần khởi động VLS. Bù lại cho những giờ thử và retrofit nóng nực trong hầm tàu, nhóm sửa chữa VLS được ưu đãi trong một khách sạn nổi tiếng nhất ở thành phố Pascagoula, đó là khách sạn Longhorn nằm bên bờ vịnh Mễ Tây Cơ. Longhorn không có cao tầng mà được kiến trúc theo kiểu miệt vườn nằm trong một chu vi rộng. Phòng ốc được trang bị với những vật dụng quý, đẹp tạo nên vẻ sang trọng. Vườn rộng có nhiều cây cổ thụ len lỏi giữa những bãi đậu xe tạo nên hình dáng của Longhorn như một cô gái “con nhà giàu”.
Tháng 9 năm 1985 tôi trở lại Pascagoula với gói sửa chữa mới cho VLS. Vào mùa Thu mỗi năm, miền Nam nước Mỹ và nhất là vùng vịnh Mễ Tây Cơ thường có những trận bão. Pascagoula vừa trải qua cơn bão lớn, thành phố tiêu điều với những cành cây gãy còn nằm trơ bên vệ đường. Sân đóng tàu Ingalls Shipbuilding bị hư hại nặng, vài ba cần trục nặng cở 5 tấn cũng bị đẩy xuống vịnh Mễ Tây Cơ! Và khách sạn Longhorn cây cối ngã nằm ngổn ngang trong sân. Nhưng Bunker Hill vẫn đứng trơ gan giữa trời đất!
Buổi chiều sau khi lắp ráp gói sửa chữa mới tôi rời Bunker Hill, nhìn cảnh điêu tàn của thành phố Pascagoula sau cơn bão làm lòng tôi cô đơn lại càng thêm cô đơn hơn, tôi lấy xe chạy thẳng về thành phố New Orleans. Đường miền Nam bằng phẳng và trống trải, chiếc xe phóng đi vù vù giữa những bãi cỏ xanh và làn gió biển mát rượi. Sau hai tiếng đồng hồ trên xa lộ tôi rẽ vào một khu phố nhỏ nằm ở ngoại ô thành phố New Orleans, nơi có nhiều người Việt sinh sống. Đây là một ngôi làng Việt Nam trong giữa đất Mỹ. Ngôi làng không quá 100 nóc gia, có nhà thờ Thiên Chúa Giáo, có cha sở người Việt, trồng trọt đầy đủ thức ăn rau quả Việt Nam, nhất là rau muống. Và bên cạnh ngôi làng là khu thương mại nhỏ, có tiệm vải, tiệm vàng và có đủ các loại tiệm tạp hóa, có chợ chờm hởm, và đương nhiên một vài tiệm ăn cũng mọc lên nơi đây. Nhưng đặt biệt hơn hết là người dân nơi đây không nói tiếng gì khác ngoài tiếng Việt. Bấy nhiêu đó đã tạo nên một tính chất thuần Việt và tôi có cảm giác như đang đứng trên quê hương Việt Nam. Ngôi làng gồm những người Việt tị nạn đến từ thành phố Long Hải sau ngày 30 tháng 4, 1975, hầu hết sống bằng nghề đánh cá.
Tôi bước vào một quán ăn nơi đây, gọi tô hủ tíu, ly “càfê chờ” và nhìn cảnh sinh hoạt rất thuần Việt để sống lại cảm giác quê hương. Cách tôi vài cái bàn là một nhóm người trẻ, trai có gái có, chừng 17, 18 tuổi đang ăn nhậu. Những tiếng nói ồn ào phát ra từ cái bàn đó, một chặp sau tai tôi nghe những lời chửi thề từ một cô gái xinh đẹp, những lời chửi thề táo bạo tưởng chừng như chưa bao giờ nghe từ miệng của một cô gái dậy thì. Những tiếng nói ồn ào càng lúc càng to lên, và một cố bé xắn quần lên, ngồi chồm hổm trên chiếc ghế đẩu, nói: A… cái con đĩ ngựa đó, sức mấy mà bà mà sợ cái mặt L nó. Rồi từ đó cô bé xài tiền 500 không thôi, nói tòan thứ tiếng Đan Mạch. Tôi không hình dung ra được khuôn mặt người kia ra sao mà cô bé cứ gọi là mặt L. Tôi muốn đi tìm cô nhỏ kia để xem mặt mà giang hồ muôn nẽo biết đâu tìm! Nhưng có điều mấy thằng con trai thì ngồi nghe, cười hít mắt. Tôi tưởng như mình đang ngồi trong một tiệm ăn trước cửa Kho 5 ở quận Tư ngày xưa, nơi những người phu khuân vác tụ tập ăn tục nói phét trước giờ xuống bến tàu. Tôi thấy mình thực sự tìm lại “hương vị và hơi hớm” quê hương. Tôi đứng dậy, trả tiền và ra xe trở lại thành phố Pascagoula! Trên con đường thênh thang, một mình tôi thả hồn bay bỗng về cửa Kho 5 của ngày xưa. Và hình ảnh của một bà chị dân bến tàu, mặt mày tiếu lâm tay cầm ly ruợu đế, cười cười nói với người đàn ông ngồi đối diện: Đù… tía con anh!
Bước sang đầu năm 1986 tôi thường bay về thành phố Mobil. Từ đó lấy xe chạy về Pascagoula với những gói sử chữa cho VLS. Lần cuối vào khoảng tháng Năm 1986, cửa hầm VLS thường thất bại để mở góc từ 87,5 độ đến 91,5 độ trước khi phóng hỏa tiễn. Điều nầy sẽ triệt thoái quyết định phóng hỏa tiễn và đưa tín hiệu “NO GO” về phòng chỉ huy. Cửa hầm không mở đúng góc tiêu chuẩn đã xác định gây ra bởi nhiệt độ nóng lạnh bất thường làm thay đổi tính chất kim loại và bộ phận cơ khí nắp hầm. Cuối cùng nắp hầm VLS được thiết kế với những sợi tungstenn bên trong để sưởi ấm và điều hòa nhiệt độ nắp để bảo đảm góc mở trong mọi trường hợp thời tiết trước khi kích động VLS.
Đến tháng 9 năm 1986 Bunker Hill rời sân tàu Litton-Ingalls Shipbuilding và bắt đầu nhiệm vụ hải hành. Chuyến “thử biển” đầu tiên USS Bunker Hill (CG-52) thực hiện khả năng của hệ thống VLS là cuộc phóng hỏa tiễn Tomahawk ngoài khơi thành phố Boston, Massachusetts, nơi trận chiến Bunker Hill đã một lần xãy ra!
Hình ảnh và sự thành công của chuyến phóng Tomahawk đầu tiên trên VLS Bunker Hill được ghi nhận đầy đủ. Mỗi kỷ sư và nhân viên trực thuộc chương trình VLS tại Martin Marietta đều được tặng một bức hình phóng hỏa tiễn này để làm kỷ niệm.
(Hình: Tomahawk đầu tiên được phóng bởi VLS trên USS Bunker Hill)
Vào năm 1987 chương trình thiết kế VLS chấm dứt. Một cuộc đấu thầu để sản xuất hàng lọat VLS cho Hải Quân được diễn ra nhưng Martin Marietta đã thua. Gói thầu lọt vào công ty FMC Corporation (8). Một vài tên như L. Basak, C. Secrets, D. Bennett của Martin Marietta chắc chắn sẽ được gắn liền với ba chữ VLS trong một thời gian dài. Cũng trong năm này tôi rời Martin Marietta và rời VLS. Một tuần trước ngày cuối cùng của tôi, xếp lớn đôi ba lần mời tôi vào văn phòng của ông để hỏi tại sao tôi rời VLS, hỏi có ai làm phiền gì tôi không và ông hứa sẽ lên lương nếu tôi đổi ý định. Tôi nói không ai làm phiền đến tôi cả, tôi phải đi vì VLS đã vào sản xuất, một việc làm tốt đã hoàn thành, và tôi phải về gần nhà vì chúng tôi vừa có một đứa con mới toanh. Trong một buổi tiệc tiễn đưa đầm ấm tôi được những người bạn trao cho một cái ly cối dùng để uống bia làm bằng đồng, có cán cầm, trên đó có khắc tên tôi, hàng chữ Kỷ Sư Hệ Thống Đàn Anh, ba chữ VLS; ly cối không chứa bia nhưng chứa đầy những kỷ niệm đẹp cho cả một đời!
Từ đó USS Bunker Hill trở về homeport ở San Diego, và trong trận chiến Vùng Vịnh, quả Tomahawk đầu tiên bắn vào Iraq để sau này kết thúc triều đại Sadam Hussein cũng được phóng đì từ hệ thống VLS trên USS Bunker Hill (CG-52)! Ngày nay USS Bunker Hill và hệ thống VLS đi khắp nơi trên thế giới để gìn giữ hòa bình.
(Hình: Tomahawk đầu tiên bắn vào Iraq từ VLS USS Bunker Hill)
Vũ khí được chế ra để đảm bảo hòa bình. Điều này không có gì hoài nghi. Thử hỏi, nếu một Do Thái bé nhỏ không có sức mạnh quân sự và vũ khí hạt nhân thì liệu có giữ được toàn lảnh thổ, giữa một nhóm quốc gia Hồi Giáo lúc nào cũng muốn tiêu diệt, đến ngày nay không? Việt Nam trải dài từ Nam đến Bắc trên một bờ biển chiến lược để bảo vệ đất nước, phát triển và giao lưu với thế giới, nhưng cũng thử hỏi, Hải Quân Việt Nam ngày nay được trang bị với những gì? Rất buồn cười, những người lãnh đạo Việt Nam tự cho mình là “đỉnh cao trí tuệ” nhưng quá khiếp nhược trong vấn đề bảo tồn lãnh thổ do tiền nhân gầy dựng từ ngàn năm xưa! Tại sao?
Đồng Sa Băng
5/2013
(1) Martin Marietta Corporation: trở thành Lockheed Martin năm 1995
(2) Bà Già L19: Thính thám cơ được dùng ở chiến trường Việt Nam ngày xưa
(3) CG: Class of Guided-missile Cruiser
(4) DDG: Class of Guided-missile Destroyer
(5) Hỏa Tiễn Định Vị Tuần Dương Hạm: Guided-missile Cruiser
(6) Hỏa Tiễn Định Vị Khu Trục Hạm: Guided-missile Destroyer
(7) SPICE: phần mềm dùng để thiết kế và khảo sát mạch điện
(8) FMC Corporation: trở thành United Defense năm 1994
|
|
Comments: 0 ::
View Comments
|
| Posted By:
DongSaBang
@ 09 April 2013 - 01:55 PM |
Lon Ghi-Gô
-“Nhìn kìa, thằng bé nhỏ xíu thọt chân chéo qua sườn xe để đạp trông vui hông! Tướng nhỏ chút như con khỉ ông Đặng Dưỡng bu trên chiếc xe đạp, giống như chiếc xe đạp tự động và không người lái mà biết chạy vây đó. Mà nó ở đâu mới xuất hiện đi bán bún trong xóm này vậy hổng biết, thấy lạ hoắc.”
Người thiếu nữ nói xong đưa tay ngoắt đứa bé đang chạy xe ngoài đường:
-“Nhỏ, nhỏ kia ơi, đem bún vô đây bán cho chị vài ký coi.”
Tiếng kêu của người thiếu nữ vừa dứt thì chiếc xe đạp đòn dông chạy chậm lại rồi đứng hẳn giữa đường. Một đứa bé vận quần đùi, áo nâu sầm, đầu trần chân trần đẩy chiếc xe đạp, trên ba-ga có buột một thúng bún tươi, vào cái sân nơi người thiếu nữ đang đứng. Nó đưa mắt nhìn người thiếu nữ xinh đẹp, rồi nói:
-“Chị à, bún này không bán cho chị đâu.”
-“Sao lạ vậy, bộ khinh chị không tiền mua sao?”
-“Không phải, bún này có người đặt rồi và em mang đi giao cho cái tiệm đằng kia nề. Sắp đến Tết rồi tiệm nào cũng đặt bún Mẹ em hết. Chị muốn mua mấy ký để một lát em mang lại bán cho chị.”
-“Vậy hả, lát nữa mang lại cho chị hai ký để chị cúng Tết, mà nhớ bún phải tươi không thì chị không mua đâu nghen.”
-“Mẹ em bán bún tươi không hà, chị khỏi lo, bún còn bốc hơi luôn đó.”
-“Ừ, nhớ bún còn bốc hơi đá nghen, bún mà không bốc hơi là em bốc hơi đó.”
Đứa bé nhe răng cười không hiễu người thiếu nữ kia nói gì rồi thọt một chân chéo qua chiếc xe đạp đạp đi. Tướng nó nhỏ và thấp chủn làm gì ngồi trên yên xe để đạp được!
Trong căn nhà nhỏ nằm trên đường lên Chợ Chùa, Hùng đang lau chùi những võ đạn “canh-nông” to bằng bắp chưn, xong cưa bỏ phần cổ làm thành một cái ống ngay thẳng. Ở phần đuôi, nơi hột nổ đã bị phá, Hùng khoan những lỗ nhỏ cách nhau đều đặng trên những vòng tròn. Thế là những võ đạn “canh-nông” bây giờ biến thành ống ép bún! Những trái đạn từ bên này hay bên kia đã đốt cháy nhà cửa và giết chết người đâu đó trên quê hương làng mạc của Hùng, những trái đạn đã biến cuộc sống gia đình Hùng từ vinh quang xuống bùn lầy! Bây giờ trong những võ đạn trần trụi đó con người lại tìm thấy miếng ăn.
Ngày này qua ngày nọ những giọt mồ hôi nhuể nhại rớt xuống thành từng hột trong những lần quết bột và ép bún, Hùng đã mệt mỏi và không muốn nhìn những võ đạn này nữa. Đôi bàn tay chai cứng do suốt ngày cầm chày quết và nhồi bột đã làm Hùng nổi quạo mỗi lần nghĩ đến cuộc sống thanh bình nơi quê xưa. Có nhiều lần Hùng không chịu nổi sự cực nhọc đã vức bỏ mọi thứ và òa khóc như một đứa bé. Nhưng cuộc đời đưa vào ngõ cụt nên Hùng chỉ biết thầm khóc trong thân thể rả rời vì miếng cơm manh áo. Giữa nổi buồn tận cùng đáy lòng Hùng, thì một đứa bé chạy vô nhà hồn nhiên vui vẽ nói:
-“Tiền bán bún đây nề, anh thấy nhiều không.”
Hùng cũng không buồn nhìn mớ tiền đứa em vừa bán bún mang về.
-“Anh bỏ bún vô rổ đi, em mang đi bỏ mối nữa.”
Đứa bé lại chéo chân qua chiếc xe đạp chạy đi bỏ mối bún. Trời vừa qua cơn mưa, đường sá nhiều chỗ ngập nước. Đứa bé đạp xe băng trên con đường nó đi mỗi ngày, đến nơi nước ngập đứa bé vấp phải ổ gà, và, ập một cái chiếc xe đạp ngã chênh vênh. Rỗ bún trên xe trút nhào xuống vũng nước trên đường. Đứa bé đứng nhìn những con bún ngập nước, nó bỗng thấy lo sợ, rồi không một chút phân vân nó cuối xuống hốt hết bỏ vào rổ, rửa sơ lớp bún trên mặt và tiếp tục đạp đi giao cho tiệm ăn nọ. Người chủ tiệm không có gì thắc mắc, lấy rổ bún mang vô nhà và trả tiền đầy đủ cho đứa bé. Nó chạy về mà mặt mày vẫn còn lo sợ! Nó nói:
-“Tiền bán bún đây nề, em không đi giao bún nữa đâu.”
-“Sao lại không đi giao bún nữa?” Hùng hỏi.
-“Em sợ!”
-“Sợ cái gì?”
-“Không nói đâu.”
-“Chứ bây giờ em làm gì ăn?”
-“Em đi bán bánh mì.”
Buổi sáng hôm sau đứa bé lên lò bánh mì Chí Thành lấy bánh đi bán. Cuộc đời non dại của nó thật sự chưa hiểu được giá trị đồng tiền thì chuyện buôn bán lời lỗ chỉ là một khái niệm mù mờ, mù mờ như tuổi thơ của nó. Những buổi sáng tinh sương nó cõng trên lưng một bao bố bánh mì nóng dòn đi rao bán. Trưa về nó vui mừng đem khoe với anh Hùng rằng nó bán bánh mì lời nhiều lắm. Hùng hỏi tiền đâu, nó móc hết tiền trong túi đêm bỏ trên bàn. Hùng đếm xong rồi nói:
-“Hồi sáng anh đưa cho em 200 đồng đi lãnh bánh mì bán, bây giờ em bán hết bánh mì mà đêm về chỉ có 180 đồng, thì lời chỗ nào?”
-“Em thấy tiền nhiều lắm mà, bỏ đầy túi mà.”
-“Em bán bao nhiêu một ổ?”
-“Ba đồng.”
-“Ba đồng một ổ thì phải có 300 đồng chứ.”
-“Em không biết, em nói ba đồng một ổ, người ta dí tiền vào tay em, em bỏ vào túi em. Vậy thôi. Hồi sáng anh đưa có hai tờ giấy bạc, bây giờ em đem về một đống mà sao không lời?”
-“Thôi, nghỉ bán đi. Bỏ ra 200 đồng đi buôn mang về chỉ có 180 đồng mà nói lời quá chừng! Hai tờ hồi sáng là hai tờ 100 đồng, còn đống tiền đây là đống tiền lẽ. Ngu vừa thôi!”
Hùng nói trong bực bội. Nhưng thôi, trách ai đây. Ba tháng trước em chỉ là một đứa bé rong chơi, hồn nhiên như chú nai con. Nhưng bây giờ em phải lo đi buôn bán kiếm cái ăn cái mặc, em chỉ nghĩ bán buôn như những lần em chơi trò bán buôn với chúng bạn trong làng, thì tiền bạc có nghĩa gì đâu, vì đó là những tờ giấy bạc bằng lá mít!
Rồi cuộc đời thay đổi, một hôm đứa bé lên phi trường đưa cha vào Sài Gòn để lo cho mấy người anh phải bỏ học và lâm vào cuộc sống cực khổ. Ngày mua vé bà Khanh chỉ bán cho cha đứa bé một vé máy bay duy nhất. Đứa bé lủng đủng theo cha vào sân bay, và đi thẳng lên máy bay luôn mà không bị ai ngăn chặn. Đứa bé nghĩ mình được “đi chui máy bay” nên mừng hú vía. Khi vào Sài Gòn điều ngạc nhiên đầu tiên là cha đứa bé lắc đầu lia lịa, nói xứ sở gì đâu mà không thấy núi rừng, đi đâu cũng chỉ thấy ruộng đồng ngập đầy nước, và điều làm ông ái ngại nhất là những nấm mồ! Những nấm mồ nằm trong giữa ruộng đồng, những khi mưa lớn nước dâng cao tràn lên mồ mả. Nên ông nói chắc phải về quê thôi, về quê để khi chết khỏi bị chôn trong sình lầy!
Nhưng trước mắt ông phải đi làm để sống.
Ông chỉ là một người nông dân và nghề của ông là cày bừa ruộng lúa. Nhưng ở đây ông làm gì có ruộng để ông cày, ruộng của ông người ta đã cướp sạch rồi! Nên bắt đắc dĩ ông trở thành một lao công bến cảng, hằng ngày khuân vát những bao lúa mì từ dưới khoan ghe bầu để kiếm tiền nuôi vợ con. Nhưng không may trong khi lo khuân vác dưới hầm tàu ông bị những bao lúa mì đổ xuống đè gãy chân!
Những ngày nằm bệnh viện người chăm sóc cho ông chính là đứa con nhỏ đi chui máy bay ngày nào.
-“Du, con nằm ở đâu?”
-“Dưới nầy nề cha, dưới chân gầm giường của cha nề.”
-“Thôi được, để cha nói với nhân viên bệnh viện để con ngủ đây với cha.”
-“Họ thấy con nằm đây mà có nói gì đâu?!”
Rồi hằng ngày đứa bé lo cơm nước thuốc thang cho Cha. Thỉnh thoảng ông thấy đứa bé gặm bánh mì thịt, ông hỏi:
-“Tiền đâu con mua bánh mì?”
-“Người ta trả công cho con.”
-“Con làm gì ở đây mà trả công? Hay là con xin ai. Con không được xin tiền ai nghe không.”
-“Cha coi nề, con có cái lon ghi-gô (guigoz) nầy nề. Mỗi ngày con dùng lon ghi-gô đun nước sôi cho mấy chú bác nằm chỗ kia và họ cho con tiền. Con còn trong túi nhiều tiền lắm, cha muốn ăn gì hông con mua cho cha.”
-“Mới đây con không biết đếm tiền, đi bán bánh mì lỗ hết vốn mà nay con biết làm ra tiền rồi sao! Ôi cũng chỉ vì chiến tranh mà ra!” Ông nói trong nghẹn ngào.
-“Cha không biết đó chứ mỗi ngày con dọn dẹp, ném rác, đun nước sôi và chạy ra kia mua bánh mì thịt giùm cho mấy chú kia, mấy chú cho con tiền chứ con có xin ai đâu. Ngoài cửa bệnh viện có mấy xe bán bánh mì thịt ngon lắm, để con mua cho cha ăn.”
-“Làm sao con đun được nước sôi?”
-“Con đun dưới gốc cây ngoài vườn kia. Con dùng lon sữa ghi-gô, đặt ba cục gạch làm ông táo rồi con lượm cuổi khô trong vườn để đun nước. Ở đây không hiểu sao mà người ta cần nước sôi nhiều lắm cha.”
-“Con của cha bây giờ giỏi rồi!”
-“Thôi, con buồn ngủ rồi, sáng ngày con mua hột vịt lộn và bánh mì thịt cho cha ăn.”
Ông kêu đứa con lại gần đầu giường rồi nói:
-“Tội nghiệp cho con quá, mấy đứa kia vì việc này việc khác, chỉ có một mình con bỏ học lo cho cha thôi.”
Xong ông nói nhỏ những gì trong tai đứa bé, những lời nguyện cầu và dặn dò nhở sau này ông không còn sống nữa. Rồi đứa bé cũng thiếp đi dưới chân giường của người cha. Có nhiều đêm nó biết cha nó thức giấc giữa đêm nói lẩm bẩm những điều bực bội và không ngủ được, vì chân ông bị ngứa muốn điên lên mà không gãi được! Những con rệp chun vào nơi bó bột của cái chân ông và sinh sôi nẫy nở trong đó. Chúng cắn và hút máu để sống, làm ông đau ngứa muốn điên lên nhưng không làm sao đụng tới chúng được. Ông chỉ biết nghiến răng chịu chết để đám rệp hoành hành nổi đau trên cơ thể!
Một thời gian sau Bác Sĩ bệnh viện Saint Paul báo cho gia đình ông biết là căn bệnh của ông đã di căn và không còn cách chữa. Họ bảo mang ông về nhà với gia đình vì ông chỉ còn vài ba tháng. Trong những ngày cuối cuộc đời bổng nhiên ông thích ăn hột vịt lộn, thức ăn khó tiêu vậy mà ông cũng đòi cho bằng được. Lúc còn tỉnh táo ông nói với vợ con bằng cách nào cũng đem ông về quê để mất, ông sợ cảnh mồ mả nằm bên cạnh ruộng nước! Rồi ngày đó cũng đến, gia đình mua vé máy bay một chiều đưa ông về quê, nơi ông sinh ra, lớn lên và gắn bó gần cả cuộc đời. Ngày đưa ông lên phi trường có đầy đủ vợ con ông, nhưng người đưa ông về quê chỉ có vợ và đứa con gái út. Đứa bé ngày ngày nuôi ông trên bệnh biện theo ông vào phi trường, nhưng lần này nó không được “đi chui máy bay”. Nó mở lon ghi-gô lấy nước cho cha lần cuối. Nhìn cha âm thầm đi vào cõi chết mà nước mắt nó chảy dài trên gò má.
Khi máy bay cất cánh đứa bé đưa mắt nhìn theo đến khi chiếc máy bay khuất bóng vào chân mây. Cái lon ghi-gô trong tay bây giờ trở thành vô dụng. Nó bước chân ra về trong tiếng kêu lẻng kẻng của chiếc lon ghi-gô lăn lóc trên mặt đường. Nó nhớ có lần ai đó kể câu chuyện “Chiến tranh và hòa bình” nghe bi thảm lắm. Nó cuối mặt bước đi, mắt u buồn và hiểu rằng, từ đây trên cõi đời này, sẽ không còn có Cha nữa!
Đồng Sa Băng
|
|
Comments: 0 ::
View Comments
|
| 40 active user(s) (in the past 15 minutes) |
| 0 members, 40 guests, 0 anonymous users |
| Google |
| Show by: Last Click or Member Name |
| Community Statistics |
Our members have made a total of 22,595 posts We have 286 registered members The newest member is vuonghung Most users ever online was 2,285 on 08 Nov 2012 |
| | |